Edgar Edgar Allan Poe | Án mạng tại đường Nhà Xác

Edgar Allan Poe là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mỹ. Poe là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự.

 · 58 phút đọc.

Edgar Allan Poe là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mỹ. Poe là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự.

Edgar Allan Poe (1809 – 1849) là một nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mỹ nổi tiếng. Poe được coi là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự, với những tác phẩm kinh điển như The Murders in the Rue Morgue, The Purloined Letter, The Tell-Tale Heart, The Cask of Amontillado và nhiều tác phẩm khác. Poe cũng là một nhà thơ xuất sắc, đã tạo ra những bài thơ lãng mạn và u ám như The Raven, Annabel Lee, The Bells, Ulalume và nhiều bài thơ khác. Poe cũng là một nhà phê bình sắc bén, đã đưa ra những quan điểm mới mẻ và độc đáo về văn học, nghệ thuật và triết học. Poe là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên được công nhận quốc tế, và đã ảnh hưởng đến nhiều nhà văn khác như Arthur Conan Doyle, Jules Verne, Charles Baudelaire, H.P. Lovecraft và nhiều nhà văn khác. Poe là một nhân vật đầy bí ẩn và hấp dẫn, với cuộc đời đầy sóng gió, tài năng và đam mê.

Đọc sách Sự sụp đổ của dòng họ Usher tại đây.

Đọc sách Tuyển tập truyện kinh dị Edgar Allan Poe tại đây.

Đọc sách Vụ án mạng đường Morgue tại đây.

edgar-allan-poe

the fall of the house of usher

Mua sách Sự sụp đổ của dòng họ Usher tại đây.

Mua sách Tuyển tập truyện kinh dị Edgar Allan Poe tại đây.

Mua sách Vụ án mạng đường Morgue tại đây.

Những năng lực đặc biệt về trí óc được mệnh danh là khoa phân tích thì không dễ gì giải thích được. Có thể chúng ta chỉ nhìn thấy những kết quả do chúng đem lại. Một trong những điều chúng ta hiểu biết về chúng, là chúng luôn luôn đem lại cho người có năng lực đó một sự thích thú mãnh liệt. Cũng như con người khỏe mạnh thấy thích thú hoạt động khiến anh ta được dịp sử dụng cơ thể của mình, một người có đầu óc phân tích lại thích thú trong việc mổ xẻ một vấn đề nan giải. Y thích sử dụng tài năng của y để phân tích cả những hành động nhỏ nhặt nhất. Y thích phân tích bất cứ loại vấn đề nào, và trong việc tìm giải đáp cho mỗi vấn đề y biểu lộ một trình độ hiểu biết bén nhọn vượt trên tầm năng lực bình thường của trí óc con người. Những kết quả của y mặc dầu tìm ra nhờ phương pháp thận trọng nhất, nhưng lại có vẻ như bất chợt mà tìm thấy.

Tài năng này có lẽ được tăng cường phát triển nhờ sự nghiên cứu về số học, phép cộng và chia những con số… nhưng nhất là nhờ những ngành học cao hơn về khoa nghiên cứu này. Tuy nhiên, sự nghiên cứu số học tự nó không phải khoa phân tích. Suy luận và tính toán kỹ lưỡng cũng tự nó không phải là phân tích. Trong trò chơi đánh cờ, người chơi suy nghĩ và đặt kế hoạch, nhưng anh ta không phân giải.

Không phải hiện giờ tôi đang viết một tài liệu về môn đánh cờ hoặc về trí óc phân tích, mà tôi chỉ đang chuẩn bị trình bày một câu chuyện khá ly kỳ. Vậy, tôi cũng sẽ trình bày ở đây những năng lực cao hơn của trí óc được áp dụng một cách quyết định và hữu ích hơn trong một trò chơi khác mệnh danh là cờ ô vuông.

Trò chơi này có vẻ giản dị hơn môn chơi cờ tướng. Khi chơi cờ, những quân cờ được xê dịch tùy theo đường lối khác nhau. Môn chơi cờ không đơn giản nhưng cũng không sâu sắc, và người đánh cờ phải quan sát thật kỹ. Chỉ sơ hở trong chốc lát là anh ta có thể bị thua. Việc đi quân với nhiều cách và nhiều hướng xê dịch khác nhau càng khiến tăng thêm những lỗi lầm bất ngờ có thể xảy ra vì nhỡ nước cờ. Chín lần trên mười thì kẻ chiến thắng chính là người chơi cờ biết thận trọng chứ không phải người chơi có đầu óc tinh lanh hơn.

Khi chơi cờ ô vuông, tuy lối đi quân giản dị hơn và những lỗi lầm bất ngờ về đi quân ít xảy ra, nhưng chính kẻ có đầu óc tinh lanh hơn là kẻ giỏi cờ hơn. Trong môn chơi này, người biết phân tích tự đặt mình vào tâm trạng của đối phương, am hiểu được kế hoạch đi quân của đối phương, rồi tự đặt cho mình thế cờ nên theo (sự việc này thường khi giản dị) để dẫn đối phương vào những nước lầm lẫn.

Cũng có một lối chơi bài, môn bài lá 52 cây, đã nổi tiếng từ lâu về ứng dụng năng lực phân tích. Người đánh cờ giỏi nhất thế giới chỉ có thể giỏi nhất về môn cờ; nhưng một tay chơi bài lá cao thủ thì dường như đã tiềm tàng sẵn những tài năng để đem lại thắng lợi cho anh ta trong các sự việc quan trọng hơn, đòi hỏi sự đấu trí. Một người chơi bài cần phải quan sát và nhớ, anh ta phải hiểu và tuân thủ luật chơi. Trong phạm vi này, người chơi bài cũng giống như người đánh cờ. Nhưng chính là trong các sự việc vượt ra ngoài khuôn khổ của luật lệ ta mới thấy xuất hiện tài năng của người biết phân tích. Anh ta phải nghiền ngẫm nhiều sự kiện, suy đoán và sử dụng những sự kiện đó. Có thể những người khác cũng làm như anh, nhưng anh biết phải nhìn vào sự kiện nào. Trong khi đánh bài, người đó nhìn thấy nhiều sự kiện bên ngoài ván bài. Anh ta quan sát nét mặt của người chơi, quan sát tay họ: anh để ý từng sự thay đổi trên khuôn mặt họ khi họ chơi. Anh nhìn lúc họ đắc ý, lúc họ bị dồn bất ngờ và lúc họ cảm thấy có thể bị thua ván bài.

Mỗi lời nói ra, mỗi cử chỉ tình cờ xuất hiện, nhất nhất đều được theo dõi. Đến lúc anh đã chơi hai ba ván bài, anh biết rõ những người khác đến nỗi anh hiểu được lối chơi của họ cũng dễ dàng như anh hiểu rõ lối chơi của anh vậy. Trong câu chuyện dưới đây, độc giả sẽ lại có dịp gặp và cảm nhận những điều mà tôi vừa trình bày. Sống tại Paris suốt mùa xuân và chớm sang tiết hạ năm 18… nơi đây tôi gặp một chàng trai trẻ thanh lịch tên là Dupin. Anh sinh trưởng trong một gia đình tiếng tăm, nhưng vì quá nghèo, nên anh không có hy vọng gì để thăng tiến. Anh còn giữ lại một số tiền rất nhỏ vừa đủ cung cấp cho anh những đòi hỏi cần thiết cho đời sống. Anh chẳng thiết gì ngoài sách vở và sách, ở Paris lại rất dễ kiếm.

Buổi gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi xảy ra khi cả hai chúng tôi đang tìm kiếm cùng một cuốn sách. Cũng do ngẫu nhiên mà cuốn sách này lại được ít người nghe nói tới, và sự tình cờ này đã làm chúng tôi gần nhau. Chúng tôi gặp nhau thêm nhiều lần nữa. Tôi rất quan tâm đến lịch sử về dòng họ mà anh kể cho tôi nghe. Tôi cũng rất ngạc nhiên về tính ham đọc sách quá nhiều của anh; và, nhất là tôi cảm thấy tâm hồn thư thái cởi mở do ảnh hưởng của trí óc minh mẫn và linh lợi của anh và tôi cảm thấy, đối với tôi, tình bằng hữu của một con người như vậy tất nhiên sẽ là hữu ích không lường được. Tôi nói cho anh biết cảm nghĩ này của tôi.

Sau cùng, chúng tôi quyết định sẽ chung sống với nhau suốt trong thời gian tôi lưu trú tại kinh thành này. Vì có nhiều tiền hơn anh một chút, tôi thuê một căn nhà kiểu cổ, thiếu vẻ ngoạn mục, và thích hợp với tính tình u sầu của cả hai chúng tôi. Căn nhà này, cũng vì chứa đựng một giai thoại khá lạ kỳ, nên đã hoang vắng từ lâu và đang tiến dần tới trạng thái điêu tàn.

Tôi không nói cho bạn hữu nào khác biết tôi đang cư ngụ tại đây nên không ai tới thăm viếng chúng tôi cả. Anh bạn tôi có một sở thích là say mê Đêm Tối, và tôi cũng âm thầm ngả theo sở thích này cũng như tất cả các sở thích khác của anh. Trời không thể cứ tối mãi, nhưng chúng tôi có thể tạo ra cảnh trời tối. Vừa khi ánh bình minh xuất hiện là chúng tôi đã đóng chặt cửa không để ánh sáng lọt vào. Chúng tôi đọc, viết, hoặc bàn luận cho tới khi đồng hồ báo hiệu cảnh đêm đã thực sự trở lại với chúng tôi. Rồi chúng tôi bước ra đường phố, khoác tay nhau đi lang thang trong kinh thành cho mãi tới khuya.

Vào những lúc đó tôi không thể không nhận thấy và không thích thú về năng lực phân tích đặc biệt trong con người Dupin. Dường như anh cũng thấy vui thú khi sử dụng năng lực đó. Anh thường khẽ cười và nói với tôi là phần đông người ta không giữ kín được tư tưởng của mình, và để dẫn chứng, anh làm tôi ngạc nhiên về tất cả những điều anh biết về tư tưởng của tôi. Những lúc này, thái độ của anh thật lạnh lùng xa cách, mắt anh xa xôi trong khi giọng nói của anh cao vút lên. Nhìn anh trong những giây phút đó, tôi mường tượng như có hai con người trong Dupin – một người đang ráp nối những sự vật lại và một người đang tháo rời chúng ra từng mảnh một.

Một đêm kia, chúng tôi đang tản bộ dọc theo một con đường dài, dơ dáy, ở sát bên Hoàng Cung. Cả hai chúng tôi đang suy tưởng, ít nhất tới 15 phút không ai thốt ra một lời. Bất chợt, Dupin nói:

– Hắn là một gã rất nhỏ bé, đúng như vậy, và hắn sẽ là diễn viên khá trong những vai trò dễ dàng hơn. Có thể chắc chắn về điểm đó, tôi trả lời không suy nghĩ, thoạt đầu không để ý đến những lời nói của anh sao lại phù hợp với những ý nghĩ của tôi đến thế. Một lát sau tôi nhận thấy ngay và hết sức ngạc nhiên. Này anh Dupin, tôi nói, giọng trịnh trọng, Thật tôi không thể hiểu nỗi. Sao anh biết tôi đang nghĩ về…? Đến đây tôi ngưng lời để xác định một sự ngờ vực là xem anh bạn có thực sự biết rõ con người mà tôi đang nghĩ tới không …về Chantilly, anh tiếp lời. Anh đang nghĩ rằng hắn quá bé nhỏ đối với vai trò mà hắn đảm nhiệm.

Đúng là điều tôi đang suy nghĩ.

– Trời đất quỷ thần! Tôi thốt lên, anh hãy cho tôi biết phương pháp – nếu có phương pháp đó – mà nhờ nó anh đã có thể nhìn thấu tâm can tôi trong vấn đề này. – Đó là nhờ gã bán trái cây, bạn tôi trả lời. – Nhờ gã bán trái cây hả? Tôi có biết gã bán trái cây nào đâu. – Gã đàn ông chạy vượt lên, va vào anh khi chúng ta bước tới đầu phố – trước đây khoảng 15 phút ấy.

Bấy giờ tôi mới nhớ ra rằng, quả thực, một gã bán trái cây, đầu đội thúng táo lớn, đã đụng tôi suýt ngã khi chúng tôi rẽ vào con đường hiện chúng tôi còn đang đứng ở đó. Nhưng vấn đề này có liên hệ gì tới Chantilly thì tôi không thể hiểu nỗi.

– Tôi xin giải thích, Dupin nói, chúng ta hãy kiểm điểm lại sự liên tục của những ý nghĩ của anh từ lúc tôi nói với anh cho tới lúc gặp gã bán trái cây. Những ý nghĩ đó tiếp diễn như sau: Chantilly, Orion, Epicurus, khoa phân thể toán học, những hòn đá lát đường rồi tới gã bán trái cây.

Có ít người, vào một khoảng thời gian nào đó trong đời, họ đã không nhìn lại những quãng đời đã qua để kiểm điểm lại xem tư tưởng của họ đã đạt tới mục tiêu nào. Người nào lần đầu áp dụng thí nghiệm này sẽ ngạc nhiên về chặng đường mà tư tưởng đã vượt qua. Tôi ngạc nhiên biết bao về lời nói của Dupin mà tôi phải nhìn nhận là sự thật.

Anh nói tiếp:

– Chúng ta đang bàn luận về ngựa. Khi chúng ta rẽ vào đường này thì gã bán trái cây lẹ bước qua mặt chúng ta. Gã làm anh phải bước tránh sang bên, dẫm chân lên một vài hòn đá. Bị vấp đau chân, anh lẩm bẩm mấy câu giận dữ, và anh quay lại nhìn những hòn đá rồi lại bước tiếp. Mắt anh vẫn nhìn xuống đất. Chúng ta tiến tới góc con đường nhỏ, ở đấy người ta đang thử áp dụng một phương pháp mới về cách đặt những viên đá lát đường. Tại đây, nét mặt anh tươi sáng lên và tôi nhìn thấy môi anh rung động. Tôi có thể chắc chắn lúc đó anh đang nói danh từ phân thể toán học, danh từ về phương pháp đặt đá tân kỳ này. Tôi suy ngẫm danh từ này sẽ khiến anh nghĩ tới nhà văn Hy Lạp cổ xưa tên là Epicurus, đã viết về những sự vật mà ông mệnh danh là hạt nguyên tử, nhà văn này tin rằng Trái Đất và bầu trời đều do những hạt nguyên tử này tạo thành. Trước đây không lâu lắm, anh và tôi đã bàn luận về Epicurus và những tư tưởng lâu hàng thế kỷ của ông; những tư tưởng y như ngày nay người ta nói về Trái Đất và không gian. Tôi đoán rằng anh sẽ nhìn lên chùm sao kia mà ta gọi là Orion. Quả vậy, anh có nhìn lên trời thật, và tới lúc đó tôi chắc chắn đã theo dõi được sự liên tục tư tưởng của anh. Nhưng hôm qua, trong báo có bài nói về Chantilly. Chúng ta đã bàn luận về vấn đề này, và tôi vạch rõ cho anh biết tác giả bài báo đó đã lấy một vài chữ trong một cuốn sách mà cả hai chúng ta đều biết. Những chữ này đề cập tới Orion nên tôi biết anh sẽ kết hợp hai ý nghĩ về Orion và Chantilly. Tôi thấy anh cười mỉm, nhớ lại giọng chua chát của bài báo đó. Rồi tôi thấy anh đứng thẳng người lên cố vươn cao hết sức. Tôi chắc chắn anh đang nghĩ tới chiều cao của Chantilly. Và tôi có nói rằng quả thật gã đó rất nhỏ bé – và gã Chantilly đó sẽ là một diễn viên khá nếu đảm nhiệm các vai trò kém quan trọng hơn.

Chẳng bao lâu sau câu chuyện kể trên, chúng tôi đã đọc bài dưới đây trong khi đang xem một tờ báo buổi tối:

ÁN MẠNG
Sáng nay khoảng 3 giờ, người dân cư ngụ tại Khu Thánh Roch – Đô thành – đã bị đánh thức bởi những tiếng kêu thất thanh dường như phát ra từ tầng lầu thứ tư của một ngôi nhà ở đường Nhà Xác. Sống tại ngôi nhà này chỉ có hai người: Bà L_Espanaye và con gái bà. Khi kêu cửa không có tiếng trả lời, tám hay mười người lối xóm và hai cảnh sát viên đã phá cửa vào. Lúc đó những tiếng kêu la đã chấm dứt; nhưng khi đám người đổ xô lên thang lầu họ còn nghe thấy vài ba tiếng nói nữa hình như từ phía trên ngôi nhà vọng lại. Rồi những âm thanh này cũng im bặt, và mọi vật trở lại hoàn toàn yên lặng. Đám người phân tán ra, sục sạo vào từng phòng một. Vừa khi tiến đến một phòng lớn trên lầu tư (cửa phòng đã được phá tung ra, vẫn còn gắn chìa khóa ở phía trong), họ đã mục kích một cảnh tượng hãi hùng.
Gian phòng bừa bãi kinh khủng, bàn ghế đổ gãy văng ra tứ phía. Chỉ có một cái giường, và mọi vật trên giường đã bị ném tung xuống giữa sàn. Một con dao cạo đẫm máu để trên ghế. Phía trước lò sưởi vương vãi chùm tóc người, dài màu xám, cũng đẫm máu, dường như được bứt ở đầu ra. Trên sàn nhà có mấy đồng tiền vàng, một cái hoa tai, nhiều vật dụng bằng bạc, và hai cái túi chứa một số lớn tiền vàng. Quần áo vất tứ tung quanh phòng. Người ta thấy một cái tủ sắt dưới lớp khăn trải giường. Cái tủ đã mở ra, chìa khóa còn cắm ở ổ khóa. Tủ đựng vẻn vẹn một ít thư từ và giấy tờ đã lâu ngày.
Không thấy Bà L_Espanaye đâu cả. Người ta tìm thấy xác con gái bà phía trên hầm lò sưởi (thật khủng khiếp!), xác cô bị nhét vào trong lỗ hổng, chỗ khói thoát lên trời. Xác chết vẫn còn ấm. Mặt rướm máu, trên cổ có những vết bầm đen sẫm hằn xuống, dường như bị những ngón tay xiết mạnh. Có lẽ những vết hằn này cho biết lý do cái chết của con gái bà.
Sau khi lục soát khắp ngôi nhà nhưng không tìm thấy thêm được điều gì mới lạ, đám người tiến vào một cái sân nhỏ phía sau tòa nhà, nơi đây người ta tìm thấy xác bà già. Cổ bà lão bị cắt gần đứt lìa đến nỗi khi người ta định khiêng bà lên thì đầu bà rớt ra.

Trước bí ẩn rùng rợn này, chúng tôi tin rằng chưa có manh mối cỏn con nào được tìm ra. Ngày hôm sau báo chí đăng tải những chi tiết mới sau đây:

ÁN MẠNG TẠI ĐƯỜNG NHÀ XÁC
Nhiều người đã bị thẩm vấn về vụ án mạng rùng rợn này nhưng chưa có sự kiện nào rọi được tia sáng vào tấm màn bí mật này. Mụ thợ giặt Pauline Dubourg khai rằng mụ biết cả hai nạn nhân từ ba năm nay, suốt thời gian này mụ giặt quần áo cho họ. Bà già và con gái có vẻ thương yêu nhau thắm thiết. Họ luôn luôn trả tiền rất hậu. Mụ không hiểu tiền của họ từ đâu tới. Mụ không hề gặp người lạ nào ở trong nhà đó. Mụ chắc chắn trong nhà không mướn người làm. Chỉ trên lầu tư mới có người ở.
Bác chủ tiệm Pierre Moreau nói:
Bà L_Espanaye đã mua bán tại tiệm bác từ gần bốn năm nay. Bà là sở hữu chủ ngôi nhà và cư ngụ tại đó hơn 6 năm qua. Người ta thường đồn là họ có nhiều tiền. Bác không hề thấy ai bước vào nhà đó ngoại trừ bà già và con gái bà và một vị bác sĩ lui tới nhà ấy chừng tám hay mười lần.
Nhiều người khác, những người kế cận, cũng khai tương tự như vậy. Không ai lai vãng tới ngôi nhà, và cũng ít khi người ta nhìn thấy bà L_Espanaye và con gái bà.
Cảnh sát viên Isidore Muset nói, người ta kêu ông tới ngôi nhà lúc 3 giờ sáng. Ông phá cửa vào. Những tiếng kêu thét chợt im bặt. Dường như tiếng kêu thét của một người (hay nhiều người) đang đau đớn đến cực độ. Khi đang lên thang lầu, ông nghe thấy hai giọng nói, một giọng trầm, và một giọng the thé nghe rất lạ tai, giọng nói của một người ngoại quốc, có lẽ dân Tây Ban Nha, mà không phải, giọng đàn bà. Ông không hiểu giọng đó nói gì. Còn giọng trầm kêu:
Trời ơi!
Một người hàng xóm tên là Henri Duval khai:
Ông cũng có trong đám người đầu tiên bước vào ngôi nhà. Ông đồng ý với Cảnh sát viên Isidore Muset về toàn thể vấn đề. Ông cho rằng giọng nói the thé đó là giọng của một người ngoại quốc, một người Ý. Có thể là giọng nói đàn bà. Chính ông cũng không hiểu tiếng Ý. Ông có biết bà L_Espanaye và con gái bà. Ông chắc chắn giọng nói the thé đó không phải là giọng nói của hai nạn nhân.
…Odenheimer, một ngoại kiều từ Hà Lan tới. Ông không nói được tiếng Pháp. Ông đi ngang qua ngôi nhà giữa lúc những tiếng kêu thét lên, kéo dài chừng 10 phút. Những tiếng kêu lớn, rên rỉ rất thê thảm. Ông đồng quan điểm với những người khác, trừ có điều ông chắc chắn giọng nói the thé đó là giọng đàn ông – một người Pháp. Ông không hiểu nỗi một tiếng nào của giọng nói này. Còn giọng nói kia là tiếng Pháp, thốt lên hai tiếng:
Trời ơi!
Ông Jules Mignaud, Giám đốc Ngân hàng khai: Bà L_Espanaye có gửi tiền tại ngân hàng ông từ tám năm nay. Ba hôm, trước ngày lâm nạn, bà rút ra một số lớn tiền vàng. Một nhân viên của ngân hàng đem tiền tới tận nhà cho bà.
Adolphe Le Bon, nhân viên ngân hàng Jules Mignaud, khai rằng ông ta đi theo bà L_Espanaye để mang tiền tới nhà bà. Con gái bà đón hai người ở cửa. Ông đưa một túi vàng cho cô ta, còn bà già cầm lấy túi kia. Lúc đó ông không nhìn thấy ai ở ngoài phố cả.
Thêm một ngoại kiều nữa, người Anh, tên là William Bird khai: Ông có mặt trong số những người bước vào ngôi nhà. Ông đã sống tại Paris được hai năm. Ông có nghe thấy những giọng nói. Giọng nói trầm của một người Pháp, ông nghe rõ tiếng: _Trời ơi!._ Giọng nói the thé rất lớn. Ông chắc chắn không phải giọng nói của người Anh. Giọng này nghe giống như giọng người Đức. Có thể là giọng nói của một người đàn bà. Ông không hiểu tiếng Đức.
Bốn người trong số nhân chứng này lại được kêu tới lần nữa. Họ đều khai rằng cánh cửa gian phòng nơi tìm thấy xác cô gái đã được khóa chặt ở phía trong. Khi họ tới cửa đó thì mọi sự đều yên tĩnh. Họ phá cửa vào, họ không thấy ai cả. Các cửa sổ đều đóng kín, gài chốt chắc chắn ở phía trong. Khắp ngôi nhà được lục soát cẩn thận. Khoảng thời gian từ lúc tiếng kêu thét cho tới lúc phá cửa phòng lâu từ ba tới năm phút.
Một ngoại kiều người Tây Ban Nha, Ông Alfonso Garcia khai:
Ông ngụ tại đường Nhà Xác. Ông bước vào ngôi nhà nhưng không lên thang lầu. Ông cảm thấy hốt hoảng và sợ sẽ nôn mửa. Ông nghe rõ những giọng nói. Ông tin rằng giọng nói the thé không phải giọng người Pháp mà là giọng một ngoại kiều – Ông đoán chắc đó là giọng người Anh. Ông không hiểu tiếng Anh.
Một ngoại kiều người Ý tên là Alberto Montani khai: Ông nghĩ rằng giọng nói the thé đó là của người Nga. Ông không hề nói chuyện với người Nga. Còn giọng trầm là giọng người Pháp, ông hiểu nhiều tiếng Pháp.
Nhiều người trong số nhân chứng này được gọi tới lần nữa. Họ khai rằng những lỗ hổng bên trên các lò sưởi đều rất nhỏ hẹp, không ai có thể trốn thoát qua đó. Cũng không có thang lầu nào khác mà người ta đã có thể đi xuống trong khi bọn họ đi lên. Đám người này phải mất tới bốn, năm phút để kéo xác cô gái ra khỏi lỗ hổng bên trên lò sưởi.
Bác sĩ Paul Dumas khai ông được mời tới để khám nghiệm tử thi ngay sau khi tìm thấy xác. Các tử thi đều trong tình trạng thê thảm, bị thâm tím và giập nát. Những kết quả thương tích này không thể do bàn tay một người đàn bà mà phải do tay một người đàn ông lực lưỡng. Cô gái đã bị giết bởi những bàn tay mạnh mẽ xiết quanh cổ cô ta. Đầu của người mẹ đã bị cắt đứt hẳn bằng một vật rất sắc bén – có lẽ là lưỡi dao cạo. Bác sĩ Alexandre Etienne cũng được mời tới để khám nghiệm tử thi. Ông cũng đồng ý với người bạn đồng nghiệp.
Người ta không biết thêm điều gì quan trọng nữa. Tại Paris, trước đây chưa hề xảy ra một vụ án mạng nào quá bí mật như thế. Cảnh sát cũng vẫn chưa khám phá ra manh mối.

Báo chí hôm sau chẳng đăng thêm mấy tin tức mới. Dẫu sao, Adolphe Le Bon đã bị Cảnh sát bắt giam, mặc dầu không có bằng chứng nào khác ngoài những sự kiện kể trên đã hướng sự ngờ vực về ông ta. Xem vẻ Dupin hết sức quan tâm, nhưng anh không nói gì cả mãi cho tới khi Cảnh sát đã bắt giữ Le Bon. Lúc đó anh mới hỏi tôi nghĩ gì về vụ này. Tôi cũng chỉ có thể đồng quan điểm với tất cả Paris là coi vụ này như một sự bí mật không thể giải đáp.

– Chúng ta không nên suy đoán căn cứ vào những điều chúng ta đã đọc trên báo chí, Dupin nói. Người ta nói Cảnh sát Paris rất tài giỏi. Nhưng họ chỉ tài giỏi một phần nào. Họ không thật sự áp dụng một phương pháp nào cả. Họ thường tìm ra những kết quả bất ngờ, nhưng đó chỉ nhờ họ cần cù làm việc. Khi cần phải suy luận thì họ chịu thua. Đôi khi họ đứng quá gần để quan sát toàn thể một sự việc. Nếu anh nhìn ngôi sao, đầu ngoảnh chếch sang một bên, anh có thể nhìn ngôi sao rõ hơn và sáng hơn khi anh nhìn thẳng vào nó. Về những án mạng này, chúng ta hãy tự suy nghiệm lấy trước khi quyết định tin chắc vào một sự kiện nào. Vấn đề này sẽ đem lại cho chúng ta đôi chút thích thú. (Tôi nghĩ rằng dùng chữ thích thú trong dịp này thật là kỳ quặc) Và, hơn nữa, có lần Le Bon đã tử tế với tôi và tôi chịu ơn ông ta. Chúng ta sẽ tới xem xét ngôi nhà tận mắt. Tôi quen biết vị Cảnh sát trưởng; Ông ấy sẽ cho phép chúng ta làm việc đó.

Khi chúng tôi tới đường Nhà Xác thì trời đã quá chiều. Ngôi nhà rất dễ tìm vì hãy còn nhiều người đứng nhìn lên đó. Trước khi bước vào, chúng tôi dạo bước quanh nhà, và Dupin xem xét kỹ lưỡng những ngôi nhà kế cận cũng như ngôi nhà đó. Tôi khó thể hiểu lý do của sự quá kỹ lưỡng như vậy.

Chúng tôi trở lại phía trước ngôi nhà rồi bước vào trong. Chúng tôi leo lên lầu trên đi vào gian phòng nơi tìm thấy tử thi cô gái. Cả hai tử thi còn để tại đó. Gian phòng được để y nguyên như khi người ta thấy vụ án đó. Tôi không nhận thấy gì khác ngoài những vật đã được báo chí kể lại. Dupin quan sát mọi vật hết sức kỹ lưỡng.

Trên đường về nhà anh ghé vào trụ sở một tờ nhật báo trong chốc lát.

Anh không chịu tuyên bố một lời nào về vụ án mạng cho mãi tới khoảng trưa ngày hôm sau. Lúc đó anh mới bất chợt hỏi tôi, xem tôi có nhận thấy điều gì đặc biệt khác thường trong quang cảnh đó không.

– Không có gì khác hơn là những sự kiện mà cả anh và tôi đều đã được đọc trên các tờ báo. Tôi trả lời. – Cảnh sát không thể tìm ra nguyên do về sức mạnh khủng khiếp đã được sử dụng trong hai vụ án mạng này. Một vấn đề nữa là: người ta nghe thấy giọng nói, mặc dầu không tìm thấy người nào ngoại trừ tử thi người đàn bà, và kẻ sát nhân lại không có lối thoát. Quang cảnh kinh dị của gian phòng; xác chết được tìm thấy, đầu dốc ngược bên trên lò sưởi; tử thi giập nát kinh khủng của bà già; đấy là tất cả sự kiện khác xa với sự ức đoán đến nỗi cảnh sát đành bó tay thúc thủ, không hiểu phải tìm đầu mối từ chỗ nào. Những sự kiện này quả thật khác thường, nhưng không phải là những bí ẩn sâu kín. Chúng ta không nên hỏi Sự gì đã xảy ra? mà phải hỏi Sự gì đã xảy ra mà từ trước chưa hề xảy ra? Thật vậy, chính những điều mà Cảnh sát cho rằng khó có thể giải thích được lại là những điều sẽ đưa tôi hoặc đã đưa tôi tới việc tìm ra giải đáp.

Tôi nhìn anh, ngạc nhiên không nói nên lời.

– Hiện tôi đang chờ đợi một người, anh nói, mắt nhìn về phía cửa, có thể không phải là thủ phạm, nhưng phải có liên hệ gì tới vụ án mạng. Tôi không cho rằng y đã nhúng tay vào phần hành động rùng rợn hơn. Tôi hy vọng tôi có lý về ý nghĩ này. Nếu quả tôi đúng, tôi hy vọng tìm thấy lời giải đáp cho toàn thể vấn đề. Tôi đợi chờ y ở đây – trong phòng này – từng giờ từng phút. Rất có thể y không tới, nhưng cũng có thể y sẽ tới. Nếu y tới, chúng ta phải giữ y lại. Súng lục đây. Cả anh và tôi đều biết sử dụng chúng khi cần đến.

Tôi ngẩn ngơ cầm lấy súng, không tin nổi những điều tôi vừa nghe thấy. Dupin tiếp tục nói, dường như để cho chính mình anh nghe. Giọng anh nói chậm và rõ, tuy không lớn tiếng. Mắt anh cứ nhìn vẩn vơ lên tường.

Anh tiếp lời:

– Điều chắc chắn là những giọng nói mà đám người đó nghe thấy khi ở trên thang lầu không phải giọng nói của chính miệng hai người đàn bà. Sự xác nhận này gạt bỏ giả thuyết là bà già đã hạ sát con gái trước rồi tự sát sau. Tôi đề cập tới vấn đề này chính là một phần trong phương pháp phân tích của tôi; vì lẽ bà L_Espanaye không thể đủ sức mạnh vác nỗi tử thi con gái bà để đặt vào nơi người ta tìm thấy nó; và tính chất cái chết của bà chứng tỏ bà không thể tự gây ra cái chết đó được. Vậy thì án mạng đã do một đệ tam nhân gây nên, và giọng nói của đệ tam nhân này là giọng nói đã được nghe thấy. Bây giờ để tôi trở lại với điểm kỳ lạ của những giọng nói đó. Anh có nhận thấy điều gì đặc biệt lạ lùng trong những lời khai về các giọng nói đó không?

Tôi cho biết là tất cả nhân chứng đều không thể đồng quan điểm về giọng nói the thé trong khi họ đồng ý về giọng nói trầm.

Bạn tôi nói:

– Đó là lời họ khai, Dupin nói, nhưng đó không phải là sự lạ của lời khai của họ. Anh đã không nhận thấy điều gì khiến cho những lời tường thuật của họ khác hẳn những điều mà mọi người dự đoán. Và còn một điều nữa. Tất cả những nhân chứng này, theo lời anh, đều đồng quan điểm về giọng nói trầm. Nhưng còn giọng nói the thé, điều lạ là khi các người Ý, người Anh, người Tây Ban Nha, người Hà Lan, và người Pháp cố thuật lại xem nó giống giọng nói nào, thì mỗi người đều khai đó là giọng nói của một ngoại kiều. Mỗi người đều quả quyết giọng nói đó không giống giọng người đồng xứ với mình. Mỗi người đều nói nó giống như giọng nói của một người nào khác mà họ không thể hiểu nỗi. Người Pháp phỏng đoán đó là giọng nói của người Tây Ban Nha, và nghĩ rằng ông ta có thể nghe hiểu nếu ông nói được tiếng Tây Ban Nha. Người Hà Lan nói đó là giọng nói của người Pháp nhưng ông ta không nói được tiếng Pháp. Người Anh cho đó là giọng nói của người Đức, và ông không hiểu tiếng Đức. Người Tây Ban Nha cam đoan đó là giọng một người Anh nhưng ông ta không biết tiếng Anh. Người Ý tin rằng đó là giọng người Nga. Một người Pháp thứ hai lại chắc chắn đó là giọng nói của một người Ý, tuy ông ta không nói được tiếng Ý. Vậy thì, thật sự giọng nói đó phải kỳ lạ khác thường lắm! Họ là những người của năm nước lớn, mà không một ai hiểu nỗi giọng nói đó, và mỗi người lại gán cho nó một danh từ khác hẳn nhau. Tôi vẫn biết còn có những quốc gia khác trên thế giới. Anh sẽ nói có thể đó là giọng nói của một người nào đó ở một trong những quốc gia này. Nhưng hãy nhớ rằng không một nhân chứng nào đã nghe thấy một âm nào trong giọng nói đó giống như những tiếng nói được phân biệt, rõ từng chữ một. Tôi không rõ, Dupin nói tiếp, tôi đã làm anh nghĩ đến cái gì. Nhưng tôi tin chắc rằng bấy nhiêu đó trong câu chuyện thuật lại đã có những sự kiện đủ để hướng dẫn anh trong việc phân tích màn bí mật. Tôi nghĩ những sự kiện này chắc chắn sẽ dẫn tới hướng đi độc nhất để tìm ra lời giải đáp chính xác. Lời giải đáp này là gì, tôi chưa thể nói ngay được. Nhưng tôi mong anh ghi nhận rằng, với tôi, chừng đó cũng đủ cho biết tôi phải tìm kiếm cái gì khi chúng ta đang đứng trong gian phòng ở đường Nhà Xác. Bây giờ, hãy tưởng tượng là chúng ta lại tới gian phòng đó. Trước nhất, chúng ta phải tìm kiếm vật gì tại nơi đây? Lối thoát của tên sát nhân. Dĩ nhiên cả hai chúng ta đều biết chắc chúng ta không cần phải tìm cái gì ngoài những vật có hình thù thể xác thực tại. Bọn sát nhân có xương, có thịt. Vậy chúng đã thoát bằng cách nào? Về vấn đề này, chỉ có một phương pháp lý luận duy nhất, và phương pháp này phải đưa chúng ta tới giải đáp. Chúng ta hãy xem xét lần lượt từng lối thoát có thể thực hiện được. Rõ ràng là bọn sát nhân đã ở trong phòng nơi tìm thấy xác cô gái hoặc ở trong phòng phía sau tòa nhà thông sang phòng cô gái. Vậy chắc chắn chúng phải trốn thoát từ hai phòng này. Cảnh sát đã nhìn xuống sàn nhà và nhìn lên tường. Nhưng tôi không tin mắt họ, tôi nhìn bằng mắt tôi. Tôi không tìm thấy lối thoát bí mật nào cả – không có lối ra nào mà không bị nhìn thấy dễ dàng. Cả hai cửa phòng đều khóa kín có chìa cắm ở phía trong. Các ống khói bên trên lò sưởi thì ở khoảng trên không đủ lớn để một con vật nhỏ có thể chui lọt. Không thể có lối thoát ở nơi cửa phòng hoặc nơi lỗ hổng trên lò sưởi. Chúng ta phải xét tới những cửa sổ, không ai có thể thoát ra khỏi những cửa sổ phía trước nhà mà không bị người ngoài đường nhìn thấy. Vậy thì tên sát nhân tất phải sử dụng những cửa sổ của gian phòng phía sau. Đến đây, chúng ta không còn hoài nghi gì nữa. Lối thoát này thoạt nhìn có vẻ như không dùng được. Nhưng chúng ta phải chứng minh là có. Có hai cửa sổ trong gian phòng. Một cái có thể nhìn thấy rõ ràng. Phần dưới của cửa sổ kia bị cái giường lớn che khuất. Cái thứ nhất bên trong gài chốt vững chắc. Những người khám phá vụ án mạng thấy đã vận toàn lực mà cũng không thể lay động được cửa sổ này. Một lỗ hổng lớn được đục vào mặt gỗ phía bên hông cửa sổ, và một cái đinh lớn được cắm khít vào lỗ đó để giữ cho cửa sổ đóng chặt. Trong khung cửa sổ kia, một cái đinh khác cũng được cắm khít vào lỗ theo cách đó, và cửa sổ này cũng không thể kéo lên được. Vì vậy Cảnh sát thật sự tin rằng không thể có lối thoát qua những cửa sổ này. Và vì thế không ai cho là cần phải xem xét kỹ hơn. Nhưng tôi xem xét kỹ hơn về lý do vừa mới nói ra – vì lẽ tôi biết đây chính là trường hợp cần chứng minh rằng điều người ta tưởng rằng không thể xảy ra được thì lại xảy ra. Đó là phương pháp suy luận của tôi. Những tên sát nhân nhất định đã thoát ra từ một trong những cửa sổ này. Tất nhiên, chúng không tài nào gài chốt cửa sổ từ phía bên trong. Thế mà người ta lại thấy những cửa sổ được gài chốt. Sự kiện này đã làm Cảnh sát không điều tra theo hướng đó. Tôi lý luận rằng vì những cửa sổ được gài chốt, tất nhiên chúng phải có cách tự động gài chốt. Không có cách nào giải thích khác hơn. Tôi bước tới bên cửa sổ, tháo cái đinh ra, và cố sức kéo cánh cửa lên. Đúng như ước đoán, tôi không làm nổi việc đó. Bấy giờ tôi mới hiểu phải có vật gì ở bên trong để cửa sổ đóng lại được và giữ nó đóng kín. Tất nhiên phải có một cái lò xo ở bên trong cửa. Và tôi biết rằng tôi suy luận đúng, mặc dù cái cửa sổ vẫn còn bí mật lắm. Tôi kiếm cái lò xo và đã tìm thấy nó. Tôi ấn cái lò xo, nhưng tôi không mở cửa sổ. Bây giờ tôi lại cắm cái đinh vào chỗ cũ và xem kỹ nó. Có thể kẻ thoát ra ngoài cửa sổ này đã đóng cửa từ phía bên ngoài, và cái lò xo được gài trở lại, nhưng y không thể đặt cái đinh vào chỗ cũ. Đây lại thêm một sự giải thích giản dị nữa. Những tên sát nhân đã trốn thoát qua cái cửa sổ kia. Vậy hãy đặt giả thuyết nếu những lò xo của cả hai cái cửa sổ đều giống nhau, thì ắt phải có sự gì khác biệt giữa những cái đinh. Đứng trên giường, tôi xem xét cẩn thận cửa sổ bên kia. Luồn tay xuống, tôi tìm thấy ngay cái lò xo và tôi ấn xuống. Đúng như tôi đã dự đoán, cái lò xo này giống như cái kia. Bây giờ tôi để ý tới cái đinh. Cái đinh này cũng lớn như cái đinh kia, và cũng được cắm vào lỗ theo cùng một cách thức. Anh sẽ cho rằng tôi đã ngạc nhiên và hoài nghi; nhưng nếu anh nghĩ như vậy, chính vì anh chưa hiểu cách lý luận của tôi. Chưa một lần nào tôi lầm lẫn. Sự tiếp diễn suy luận của tôi cũng không bị gián đoạn. Cái đinh này xem ra giống như cái đinh ở cửa sổ bên kia; sự kiện này không có nghĩa gì cả. Tôi đã nói: hẳn là phải có sự gì khá lạ về cái đinh. Tôi sờ vào cái đinh, thì đầu đinh đó long ra lọt vào tay tôi. Đó là một chỗ gãy đã lâu ngày, và tôi có thể thấy rõ như vậy. Tôi cẩn thận đặt đầu đinh vào chỗ cũ, chỗ mà tôi đã lấy nó ra, thì trông cái đinh lại giống như còn nguyên vẹn. Người ta không thể nhìn thấy vết gãy. Ấn tay vào lò xo, tôi từ từ kéo cái cửa sổ lên cao vài phân. Đầu cái đinh cũng lên theo cửa sổ. Tôi đóng cửa sổ lại, thì cái đinh trông lại nguyên vẹn như thường. Đến đây vấn đề không còn khó giải nữa. Tên sát nhân đã thoát ra phía cửa sổ sau cái giường. Cái cửa sổ đã tự động đóng lại (hoặc có thể đã được tên sát nhân đóng lại) và cái lò xo đã gài chốt cửa sổ đó. Cảnh sát đã tưởng rằng cái cửa sổ được giữ chặt bởi cái đinh nên không xem xét kỹ lưỡng thêm nữa. Câu hỏi kế tiếp là tên sát nhân đã đi xuống bằng cách nào! Tôi đã suy đoán câu hỏi này trong khi đi vòng quanh tòa nhà với anh. Tôi có nhìn thấy một ống thu lôi. Ống thu lôi được chế tạo bằng vật liệu rắn chắc. Để dẫn những luồng điện từ trên trời giáng xuống trong cơn bão tố về mùa hạ, ống này ắt phải được dựng từ trên nóc tòa nhà và thông xuống mặt đất. Tôi cho rằng đây là một lối để đi lên hoặc đi xuống chân tường. Nhưng ống thu lôi này lại cách xa cửa sổ khoảng chừng hai thước. Một khoảng cách quá rộng, khó thể băng qua. Song, tôi nhận thấy những cửa sổ ở lầu tư có thể được đóng kín ở bên ngoài bằng những cửa chớp. Cửa chớp này thuộc loại đặc biệt, ngày nay ít được sử dụng. Tôi đã nhìn thấy loại cửa chớp này nơi những ngôi nhà cổ kính ở các kinh thành khác. Trông chúng giống những cánh cửa gỗ nhỏ, và phần trên cửa làm bằng những then gỗ ngang tay nắm rất vừa. Chiều rộng của hai cánh cửa chớp này phải ngoài một thước. Khi ta nhìn chúng từ phía sau ngôi nhà, cả hai cánh cửa đều mở ra nửa chừng. Vậy có nghĩa là chúng chìa ra khỏi mặt tường. Chiều kích của chúng không được thấy rõ. Có lẽ Cảnh sát, cũng như chính tôi, đều đã nhìn về phía sau ngôi nhà. Nhưng nếu họ cố nhìn cũng không chú ý mấy đến hai cánh cửa chớp đó. Thật vậy khi đã chắc chắn là không ai thoát ra ngoài những cửa sổ, họ không còn thắc mắc về vấn đề người ta có thể đi xuống chân tường bằng cách nào. Song, tôi nhận thấy cửa chớp nơi cửa sổ ở sau cái giường nếu được mở rộng ra, áp sát vào tường, chỉ còn cách ống thu lôi khoảng nửa thước. Tôi cũng thấy rõ rằng, với một sức mạnh phi thường cùng sự gan dạ đặc biệt, việc đột nhập qua cửa sổ có thể thực hiện được từ phía ống thu lôi. Với tay qua khoảng cách gần một thước (ta hãy giả thử cái cửa chớp được hoàn toàn mở rộng), một người nào đó có thể nắm lấy những then gỗ ngang. Đoạn buông ống thu lôi, và tống mạnh chân vào tường, y có thể đóng cánh cửa chớp ập vào. Nếu lúc đó cửa sổ phía trong để ngỏ, khi cánh cửa chớp đã đóng hẳn lại, y đã lọt vào trong phòng. Tôi mong anh đặc biệt chú ý là tôi đã đề cập tới một sức mạnh vượt hẳn trên tầm sức thông thường. Sức mạnh như thế rất cần thiết để thành công trong nỗ lực này. Điểm thứ nhất, tôi muốn trình bày với anh là lối thoát này có thể dùng được, nhưng điểm thứ nhì và là điểm chính, tôi muốn anh hiểu là hành động này đòi hỏi một sức mạnh phi thường. Chắc anh sẽ nói, ra vẻ như anh đã học luật, rằng tốt hơn nên giảm thấp sức mạnh kỳ dị và tài năng phi thường cần thiết trong sự đột nhập vào gian phòng này. Và anh sẽ cho là tôi đã quá đề cao sự kiện này. Có thể anh có lý nếu đây là một vấn đề về luật. Nhưng nó lại là vấn đề lý luận. Sự mong ước duy nhất của tôi là tìm ra sự thật. Mục đích hiện tại của tôi là hướng dẫn anh kết hợp trong tâm trí hai ý nghĩ này: hành động phi thường tôi vừa nêu ra và cái giọng nói the thé, dị kỳ mà các nhân chứng đã không thể đồng quan điểm. Hãy suy luận sự kiện mỗi người đều cho rằng đó là giọng nói của một ngoại kiều. Và hãy ghi nhớ là không ai nhận ra một tiếng nói rành mạch nào mà họ đã từng nghe trước đây.

Lúc đó một ý nghĩ mơ hồ về lời giải thích của Dupin hiện ra trong óc tôi. Dường như tôi đang sắp vỡ lẽ, mà không đủ sức để hiểu biết, như đôi khi ta cảm thấy sắp nhớ ra một sự việc, thế rồi lại không thể nhớ ra được nữa.

Bạn tôi nói tiếp:

– Anh thấy rằng tôi đã xoay câu hỏi từ chỗ tên sát nhân đã thoát ra bằng cách nào qua chỗ hắn đột nhập căn phòng cách nào. Mục đích của tôi là trình bày để anh rõ là cả hai việc đều được thực hiện theo một lối. Bây giờ, chúng ta hãy trở lại với quang cảnh của gian phòng. Quần áo bị vứt tứ tung, nhưng người ta bảo rằng chỉ có một ít bị lấy đi. Đây chỉ là một dự đoán vẩn vơ mà thôi. Trước hết, chúng ta làm sao biết được có những thứ gì trong phòng? Bà L_Espanaye và con gái bà hầu như không hề rời khỏi nhà, không ai thăm viếng họ. Có nhiều áo quần đối với họ là vô ích. Những quần áo tìm thấy trong phòng chắc là tất cả số quần áo mà họ có. Nếu tên sát nhân lấy quần áo, tại sao y không lấy cái đẹp nhất, hoặc lấy tất cả? Và tại sao y chỉ lấy một ít quần áo mà lại bỏ lại tất cả số tiền? Vàng còn để lại đó. Gần đủ số tiền vàng mà vị giám đốc ngân hàng khai là phát cho bà L_Espanaye đã được tìm thấy, đựng trong mấy cái túi, ở trên sàn nhà. Vì vậy tôi mong anh quên cái lập luận trong trí óc của Cảnh sát, sự lập luận mà họ mệnh danh là nguyên cớ hoặc lý do bí ẩn của vụ án. Ý nghĩ này xuất hiện trong đầu óc họ khi họ được biết về số tiền tới tận cửa nhà nạn nhân ba hôm trước ngày xảy ra án mạng. Nhưng đây chỉ là một sự kiện mà ta mệnh danh là ngẫu hợp hai sự vật cùng xảy ra trong thời gian gần trùng nhau nhưng chỉ do tình cờ mà không do một nguyên cớ nào liên hệ chung với nhau. Những sự ngẫu hợp thường xảy ra từng giờ trong đời sống của tất cả chúng ta. Nếu số vàng bị lấy đi, thì việc tiếp nhận số vàng đó ba bữa trước sẽ có thể không phải là sự ngẫu hợp. Như vậy tôi sẽ cho rằng số vàng ấy là nguyên do của vụ án mạng. Nhưng, việc đã thực sự xảy ra, như vậy làm sao chúng ta có thể tin rằng số vàng là nguyên nhân vụ án mạng mà không cho rằng trừ phi tên sát nhân là một thằng điên thì mới bỏ quên số vàng và cả mục đích của y? Bây giờ hãy ghi nhớ kỹ tất cả những sự kiện tôi vừa đề cập tới như giọng nói dị kỳ, sức mạnh phi thường, và điều lạ lùng là vụ án mạng quá rùng rợn như vậy mà dường như không có nguyên cớ – vậy chúng ta hãy xét ngay chính vụ án mạng. Đây là một thiếu nữ bị giết chết bởi bàn tay mạnh mẽ xiết quanh cổ, rồi xác bị nhét vào trong lỗ hổng bên trên lò sưởi; đầu dốc ngược. Thông thường chúng ta chưa hề nghe nói tới những án mạng nào tương tự vụ này. Cách thức giấu xác chết cho khuất mắt quả thật là kỳ lạ nhất. Anh phải chấp nhận là ở điểm này có một cái gì không thích hợp với ý niệm về hành động của con người, cả khi chúng ta nghĩ tới những con người kinh khủng nhất. Cũng nên nghĩ tới sức mạnh ghê gớm được dùng để nhét xác cô gái vào nơi người ta tìm thấy xác cô ấy. Nhiều người đã cố hết sức mới kéo nổi cái xác xuống. Bây giờ, hãy xét lại những dấu vết khác về sức mạnh đáng sợ này. Trước mặt lò sưởi vương từng chùm tóc người dài màu xám, được bứt ở đầu ra. Anh biết rằng phải mạnh lắm mới bứt nỗi một lúc hai ba mươi sợi tóc. Chính mắt anh nhìn thấy, tóc vương trên sàn nhà (một quang cảnh hãi hùng) và anh nhìn thấy máu cùng với da đầu dính vào tóc ấy – chứng tỏ chắc chắn sức mạnh đã được sử dụng để kéo ra hàng ngàn sợi tóc cùng một lúc. Đầu của bà già bị cắt lìa khỏi thể xác, cắt bằng mỗi một con dao cạo. Hãy nghĩ tới tính chất khủng khiếp của hai án mạng này. Dường như chúng vượt quá tầm sức của bàn tay con người. Tôi không nói tới cái xác giập nát của bà già. Sở dĩ xác bà giập nát như vậy là vì bà ta rớt từ cái cửa sổ mở rộng xuống tới mặt sân lát đá. Cảnh sát không nghĩ ra điều này vì lẽ họ không để ý đến những cửa chớp. Họ tin rằng các cửa sổ đã được gài chặt bởi đinh và họ không nghĩ rằng các cửa sổ đó có thể đã để ngỏ. Nếu bây giờ khi anh đã xem xét quang cảnh gian phòng và ta thêm vào tất cả mọi sự kiện đã xảy ra, ta đã đi khá xa để tổng hợp những ý nghĩ sau đây: khả năng di chuyển kỳ quặc, một sức khỏe siêu nhân, một sự hung bạo thiếu nhân tính, một án mạng không có nguyên do, một hành động khiếp đảm vượt trên sức tưởng tượng của con người, và một giọng nói xa lạ đối với những người ở nhiều quốc gia khác nhau, không phát âm rõ rệt để mọi người nghe rõ hẳn tiếng nói. Vậy, anh đã đi tới một kết luận nào? Và tôi đã giúp anh nhận xét được điều gì?

Tôi cảm thấy ớn lạnh trên xương sống khi Dupin hỏi tôi như vậy.

– Một kẻ đã mất trí_, tôi đáp. Một người điên. Chỉ có người điên mới có thể là thủ phạm của những án mạng này.

Anh bạn tôi nói:

– Ý nghĩ của anh có một phần nào đúng. Nhưng giọng nói của người điên, cả những lúc họ điên rồ nhất, cũng không giống giọng nói mà các nhân chứng nghe thấy khi ở trên thang lầu. Những người điên không là người nước này cũng là người nước khác, và một vài tiếng nói của họ còn có thể hiểu được. Thêm nữa, tóc của người điên không giống loại tóc hiện tôi đang cầm trong tay đây. Tôi lấy tóc này ở tay bà L_Espanaye. Hãy cho tôi biết ý kiến của anh về vấn đề này. – Anh Dupin! Tôi thảng thốt kêu lên, tim đập hốt hoảng. Tóc này là… đây không phải là tóc người. – Tôi có nói đó là tóc người đâu, anh bạn nói. Nhưng, trước khi chúng ta quyết định vấn đề, anh nhìn vào tấm hình nhỏ mà tôi đã vẽ trên tờ giấy này. Đó là hình vẽ những vết hằn trên cổ cô gái. Các bác sĩ khám nghiệm cho biết những vết hằn này do ngón tay tạo ra. Anh sẽ thấy, bạn tôi nói tiếp, và tay trải rộng tờ giấy lên mặt bàn trước mặt chúng tôi, hình vẽ này làm ta nghĩ tới một bàn tay đang siết chặt. Bàn tay không xê dịch. Mỗi ngón tay, bám chặt vào chỗ thoạt đầu được đặt xuống. Bây giờ, anh thử đặt những ngón tay của anh, cùng một lúc và cũng theo kiểu đó lên trên bức hình này.

Tôi thử làm, nhưng vô hiệu.

– Có lẽ chúng ta làm không đúng cách, anh nói. Tờ giấy này trải thẳng trên bàn, nhưng cổ con người lại tròn. Đây là miếng gỗ cũng tròn và lớn gần như cổ cô gái. Anh hãy bọc tờ giấy quanh nó, và thử lần nữa xem sao.

Tôi thử, nhưng kết quả còn tệ hơn lần trước. Tôi nói:

– Đây không phải là vết tay của người. – Anh hãy đọc, Dupin tiếp lời, trang sách này của nhà bác học Cuvier.

Đó là bài tường thuật đầy đủ và tỉ mỉ về một con thú lớn, con Đười Ươi. Thân hình cao lớn, sức mạnh và sự hung bạo của con thú này rất quen thuộc với tất cả mọi người. Tôi vụt hiểu tất cả những sự khủng khiếp của vụ án mạng.

– Những điều cuốn sách này cho biết về các ngón tay, tôi nói, sau khi đã đọc xong trang sách, đều phù hợp với hình vẽ của anh. Tôi hiểu là không có con thú nào ngoài con Đười Ươi đã có thể tạo ra những vết hằn như vậy trên cổ cô gái. Cả sợi tóc màu nâu vàng này cũng giống lông con thú ở trong sách. Nhưng tôi vẫn chưa hiểu toàn thể sự bí mật rùng rợn này. Thêm nữa, còn có hai giọng nói, mà một giọng lại là giọng người Pháp. Đúng, và anh sẽ nhớ lại giọng nói này đã thốt ra câu: trời ơi! Vì vậy, căn cứ vào hai tiếng nói này, tôi đã đặt hy vọng tìm ra giải đáp toàn diện của vấn đề. Tiếng kêu đó bộc lộ một sự khiếp đảm. Đối với tôi, nó có nghĩa là một người Pháp đã biết rõ vụ án mạng. Có thể – điều khá chắc chắn – rằng y không nhúng tay vào án mạng. Có thể con Đười Ươi đã trốn thoát khỏi tay y. Có thể y đã đi theo con thú tới gian phòng. Nhưng y không thể bắt nó lại được. Và con thú hiện còn đang tự do ở một nơi nào đó trong kinh thành. Tôi sẽ không tiếp tục vấn đề bằng những sự dự đoán, vì lẽ tôi không có quyền mệnh danh chúng là dự đoán nữa. Tôi không có những lý lẽ sâu sắc ẩn bên trong những dự đoán này, nên tôi không hy vọng làm cho anh nhìn thấy rõ chúng như tôi nhìn chúng. Vì vậy, chúng ta chỉ đề cập tới chúng như những dự đoán. Nếu tôi có lý, và nếu người Pháp đó không can dự vào vụ án, tôi mong y sẽ tới đây. Anh hãy nhớ lại tối hôm qua lúc chúng ta trở về nhà, tôi đã tạt vào trụ sở một nhật báo. Và tôi đã trả tiền để đăng tin này trên báo.

Anh đưa cho tôi một tờ báo, tôi đọc:

CHÚ Ý
Sáng sớm ngày … tháng này có một con Đười Ươi lớn. Người ta được biết chủ nhân của con thú là một thủy thủ trên một hải thuyền từ đảo Maltese. Ông có thể tới nhận con thú, nếu chứng minh được con thú thuộc quyền sở hữu của ông, và nếu ông ta chịu trả sở phí về việc bắt giữ con thú. Hãy tới…

– Sao anh lại biết, tôi hỏi, người đó là một thủy thủ trên một hải thuyền từ đảo Maltese tới? – Tôi không biết điều đó, Dupin trả lời. Tôi cũng không chắc chắn về điều đó. Đây là vật tôi lượm được ở gần ống thu lôi. Anh có thể nhận thấy vật này thủy thủ dùng để cột tóc dài. Ít người dùng nó để cột tóc ngoại trừ thủy thủ và đặc biệt những thủy thủ trên các hải thuyền của đảo Maltese. Nhưng nếu tôi có lý… Xin hãy suy nghĩ trong giây lát. Người Pháp đó sẽ tự nhủ: con thú rất đáng giá. Tại sao ta không tới nhận nó? Cảnh sát đâu có biết rằng con thú đã giết hại người đàn bà đó. Và người ta lại biết ta. Vậy nếu ta không tới lãnh con thú, họ sẽ sinh nghi. Ta không muốn ai điều tra về con thú đó. Bởi thế ta cần tới lãnh con Đười Ươi và sẽ giữ nó ở một nơi không ai nhìn thấy nó cho tới khi chuyện rắc rối này êm đi.

Ngay lúc đó chúng tôi nghe tiếng bước chân trên cầu thang.

– Hãy cầm sẵn khẩu súng, Dupin nói, nhưng đừng sử dụng hoặc để lộ ra trừ phi tôi bảo anh.

Cửa trước ngôi nhà được để ngỏ, và người khách lạ bước vào nhà không bấm chuông. Y đã bước lên thang lầu nhiều bước, nhưng rồi y dừng lại. Rồi chúng tôi nghe bước chân y đi trở xuống. Dupin bước vội ra phía cửa thì chúng tôi lại nghe bước chân y đi lên. Y không trở xuống một lần nữa, mà tiến ngay tới cửa phòng chúng tôi.

– Xin mời vào, Dupin nói, giọng ấm áp đầy cương nghị.

Một người bước vào. Một thủy thủ, người to lớn, vẻ mặt gân guốc. Y cầm một thanh gỗ nặng, nhưng không mang súng. Y nói với chúng tôi bằng tiếng Pháp:

– Kính chào quý ông. – Xin mời ông bạn ngồi, Dupin nói. Tôi đoán chừng ông đến đây về vấn đề con Đười Ươi. Một con vật rất đẹp và chắc là rất đáng giá. Ông cho rằng nó được mấy tuổi rồi?

Người thủy thủ lộ vẻ hân hoan sau khi nghe mấy lời đó. Y đáp lời:

– Tôi không sao biết được – nhưng con vật không thể quá bốn hoặc năm tuổi. Ông giữ con vật đó tại đây? – Thưa không, ở đây không có chỗ để giữ nó. Ông sẽ nhận nó vào buổi sáng. Dĩ nhiên, ông có thể chứng minh ông là sở hữu chủ con vật. – Dạ, có thể. – Tôi ước gì tôi có thể giữ nó lại, Dupin nói, tôi rất sẵn lòng trả lại ông sở phí về việc tìm thấy con vật đó.

Người thủy thủ nói:

– Với bất cứ giá phải chăng nào. – Được lắm, anh bạn tôi nói, như vậy rất hợp lý. Xin để tôi suy nghĩ tôi phải đòi cái gì đây? Để tôi nói ông nghe. Ông hãy trả công tôi như thế này. Ông kể cho tôi tất cả những điều ông biết về những vụ án mạng tại đường Nhà Xác.

Dupin nói những tiếng cuối cùng này bằng giọng rất trầm, rất lặng lẽ – và cũng rất lặng lẽ, anh bước tới cửa phòng, khóa lại, rồi đút chìa khóa vào túi áo. Đoạn anh rút súng lục ra và đặt khẩu súng lên bàn.

Mặt người thủy thủ bốc nóng. Y đứng lên, với tay lấy thanh gỗ nhưng tiếp sau đó y lại ngồi phịch xuống ghế, run rẩy, không nói một lời. Trong thâm tâm, tôi thông cảm với y.

– Ông bạn, Dupin dịu giọng nói, ông chớ e ngại. Chúng tôi không có ý định hại ông. Tôi biết rất rõ là ông không nhúng tay vào những vụ án mạng thê thảm tại đường Nhà Xác. Nhưng sự thật thì ông biết về vụ án mạng đó. Do những điều tôi vừa nói ra, ông nên hiểu tôi đã có những phương pháp để khám phá ra vấn đề – những phương pháp mà ông không thể ngờ tới. Bây giờ, sự việc ra như thế này. Ông đã không làm gì cả, trừ việc ông không thể đừng được. Ông đã không đoạt tiền. Vậy không có lý do nào ông lại không khai ra và cho biết sự thật. Đây là một vấn đề danh dự đối với ông, ông phải nói ra tất cả những điều ông biết. Cảnh sát đã bắt giam người khác không dính líu gì tới vụ án mạng cả. Nhưng ông có thể chỉ rõ ai là thủ phạm thực sự.

Người thủy thủ không thốt nên lời, sắc diện y đổi khác hẳn.

– Xin Chúa cứu giúp tôi, y nói, sau một lúc chờ đợi. Tôi xin kể tất cả những sự việc tôi biết – nhưng tôi đoán ông sẽ không tin được một nửa câu chuyện của tôi. Tôi, là một thằng điên nếu tôi nghĩ rằng ông sẽ tin tôi. Dẫu sao, tôi không phải là kẻ sát nhân, và tôi xin kể lại tất cả câu chuyện dẫu tôi có phải chết vì chuyện này…

Câu chuyện y kể lại như sau: trước đó không lâu y theo hải thuyền tới vùng Viễn Đông. Đoàn thủy thủ, trong đó có y, đặt chân lên đảo Borneo. Trong một chuyến vui chơi trong rừng rậm trên đảo đó, y và một người bạn đã bắt được một con Đười Ươi. Bạn y từ trần, và hiện nay con vật hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của y. Sau một vụ lộn xộn vì sức mạnh hung bạo của con vật gây ra, y lại mang nó trở về Paris. Tại đây, y giữ con vật tại nhà riêng của y, nhốt nó cẩn thận, đến nỗi những người ở kế cận cũng không thể biết chuyện đó. Trong khi đi tàu, con vật đã bị thương một chân. Và y hy vọng bán được nó ngay sau khi nó lành vết thương.

Đêm hôm trước khi xảy ra án mạng, y về nhà rất khuya, và y nhận thấy con vật đang ở trong phòng ngủ của y. Nó đã xổng ra bằng cách nào không rõ. Tay nó cầm một con dao cạo và nó đang ngồi trước gương, bắt chước cạo mặt như nó đã từng thấy người thủy thủ làm. Con vật nhìn thấy y, nó chồm ra khỏi phòng, chạy xuống thang lầu, rồi nó tìm thấy một cửa sổ mở và nhảy ra ngoài đường.

Người Pháp chạy theo nó một cách tuyệt vọng. Con vật tay vẫn cầm con dao cạo, chốc chốc quay lại nhìn y. Nó đợi cho tới khi y gần bắt kịp nó lại chạy tiếp. Cuộc đuổi bắt này tiếp diễn một hồi lâu. Đường phố vắng vẻ, vì lúc đó đã gần ba giờ sáng. Khi băng qua phía sau ngôi nhà tại đường Nhà Xác, con vật nhìn lên và thấy ánh sáng trong khung cửa sổ mở của phòng bà L_Espanaye. Nó trông thấy ống thu lôi, leo lên một cách dễ dàng và bám vào cánh cửa chớp, nhảy lên cái giường. Tất cả sự việc xảy ra không đầy một phút.

Lúc đó người thủy thủ nghĩ bây giờ y có thể bắt con Đười Ươi. Nó chỉ có thể lại xuống bằng lối ống thu lôi. Nhưng y sợ con vật có thể gây ra chuyện gì trong ngôi nhà đó nên y lên theo nó.

Vì là thủy thủ, y leo lên ống thu lôi dễ dàng. Nhưng khi y lên cao ngang với cái cửa sổ, thì cánh cửa chớp lại ở ngoài tầm với của y. Y cố hết sức cũng chỉ đưa mắt nhìn được vào gian phòng mà thôi.

Quang cảnh y nhìn thấy khiến y suýt tuột tay vì khủng khiếp quá. Lúc đó chính là lúc những tiếng thét rùng rợn vang lên trong đêm tối. Bà L_Espanaye và con gái bà đang xếp một ít giấy tờ vào cái tủ sắt đặt giữa phòng. Ắt hẳn hai người này đang ngồi quay lưng ra phía cửa sổ. Có lẽ họ không nhìn thấy con vật. Có lẽ họ nghĩ rằng tiếng cánh cửa chớp đóng sập lại là do gió thổi.

Lúc người thủy thủ nhìn vào phòng, con vật đã túm lấy tóc bà L_Espanaye, và đang múa con dao cạo trước mặt bà ta. Cô con gái đã té xỉu xuống sàn vì khiếp sợ, nằm đó bất tỉnh, mắt nhắm nghiền.

Thoạt đầu có lẽ con vật chỉ muốn đùa chơi. Tiếng kêu thét của bà già có lẽ làm nó điên tiết. Một cái vung tay, nó cắt đầu bà lão gần đứt lìa. Nhìn thấy máu, nó càng hung bạo thêm. Mắt đỏ ngầu, nó lao mình xuống người cô gái và chụp những ngón tay ghê sợ của nó quanh cổ, xiết chặt lại cho tới lúc cô tắt thở. Rồi nó nhìn thấy khuôn mặt chủ nó, tái mét và đờ ra vì khiếp đảm.

Lúc đó con vật mới thấy sợ. Dường như để che đậy hành động khủng khiếp của nó, nó bắt đầu di chuyển quanh phòng ném tung bàn ghế và bẻ gãy chúng, kéo rời cái giường ra từng mảnh. Sau cùng, nó vác xác cô gái và nhét lên phía trên ống lò sưởi như người ta đã tìm thấy. Nó ném xác bà già ra ngoài cửa sổ.

Trong lúc nó mang cái xác này tiến về phía cửa sổ, thì người thủy thủ tuột trở xuống, trong phút khủng khiếp, y vội vã leo xuống mặt đất và rảo bước về nhà, mừng thầm là đã bỏ mặc con vật ghê sợ đó. Những tiếng nói mà đám người trên thang lầu nghe thấy là tiếng nói của y, còn giọng nói không ai hiểu nỗi là giọng con Đười Ươi.

Tôi không có gì tiếp thêm vào câu chuyện của người thủy thủ. Tất nhiên con Đười Ươi đã thoát ra khỏi gian phòng trước khi cửa phòng bị phá. Ắt hẳn nó đã đóng cửa. Về sau, chính chủ nhân nó bắt lại được nó, và y bán nó với một số tiền rất lớn. Adolphe Le Bon được Cảnh sát thả về ngay sau khi Dupin cho họ biết sự thật đã xảy ra.

Vị Cảnh sát trưởng có vẻ không vui khi nhận thấy tấm màn bí mật đã do một người không phải nhân viên Cảnh sát khám phá ra. Ông nói một đôi lời cốt để nhắc nhở là ai nấy nên lưu tâm đến việc riêng của mình.

Cứ để họ bàn luận, Dupin nói với tôi. Hãy để ông ta nói những điều ông muốn. Ông ấy sẽ thấy khoan khoái hơn. Còn tôi, tôi thấy sung sướng khi biết rõ tôi đã làm những điều mà lẽ ra ông ta phải làm. Tuy nhiên, tôi cũng không ngạc nhiên khi thấy ông ta thất bại. Ông khôn ngoan, nhưng khôn ngoan một cách sai lệch. Ông làm cho sự việc kém đơn giản hơn là thực trạng. Nhưng ông là một người tốt. Tôi mến ông nhất là về một việc ông làm – và chính vì việc này mà một số người cho là ông khôn ngoan. Tôi muốn nói tới cách thức ông ta giải thích tỉ mỉ một sự việc không có ở đây hoặc ở kia, hoặc ở bất cứ nơi nào khác; và cách thức ông ta nói Vô lý! về những sự vật ở ngay trước mắt ông ta.

nhavantuonglai

Share:
Quay lại.

Có thể bạn chưa đọc

Xem tất cả »
Thích Nhất Hạnh | Gieo trồng hạnh phúc (Chương 01)

Thích Nhất Hạnh | Gieo trồng hạnh phúc (Chương 01)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Thích Nhất Hạnh | Đạo phật ngày nay (Chương 02)

Thích Nhất Hạnh | Đạo phật ngày nay (Chương 02)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Thích Nhất Hạnh | Trồng một nụ cười (Chương 02)

Thích Nhất Hạnh | Trồng một nụ cười (Chương 02)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Luôn sẵn sàng hỗ trợ khi bạn cần

Hỗ trợ nhanh

Bạn có thể liên lạc trực tiếp với nhavantuonglai qua số hotline đính kèm dưới đây, hoặc Instagram nếu không thích nghe điện thoại cho bất kỳ vấn đề, rắc rối nào phát sinh trong quá trình đọc lẫn trong cuộc sống của bạn.

Hỗ trợ chuyên nghiệp

Bạn có thể viết thư và gửi theo địa chỉ đính kèm dưới đây trong trường hợp cần trao đổi chi tiết, chuyên nghiệp về vấn đề bản thân, hợp tác đôi bên hoặc bất kỳ thắc mắc nào muốn được trao đổi chi tiết.

Hỗ trợ trực tiếp

Bạn có thể đề xuất buổi hẹn gặp trực tiếp trong trường hợp cho rằng vấn đề cần trao đổi chỉ có thể làm rõ thông qua đối thoại trực tiếp. Hãy liên hệ với nhavantuonglai theo các thông tin đính kèm dưới đây để sắp xếp.

Hotline

+84 88 686 7749

Email cá nhân

info@nhavantuonglai.com

Địa chỉ

Da Nang | Hue