Haruki Murakami | Biên niên ký chim vặn dây cót (Chương 53)

Biên niên ký chim vặn dây cót với tiếng hót của con chim vặn dây cót chỉ vang lên vào những thời khắc quyết định, khi con người tỉnh thức những tiếng lòng thầm kín.

 · 44 phút đọc.

Biên niên ký chim vặn dây cót với tiếng hót của con chim vặn dây cót chỉ vang lên vào những thời khắc quyết định, khi con người tỉnh thức những tiếng lòng thầm kín.

Chưa tới 6 giờ sáng, viên bác sĩ thú y người Nhật đã thức giấc. Rửa mặt bằng nước lạnh xong, anh làm bữa điểm tâm. Mùa hè trời rạng sớm, hầu hết thú trong vườn thú Tân Kinh đã dậy rồi. Cửa sổ mở để lọt vào tiếng kêu của bầy thú, cùng với làn gió mang theo mùi của chúng, cái mùi giúp cho anh biết thời tiết mà không phải nhìn ra ngoài. Đó là một phần thủ tục hàng ngày của anh ở Mãn Châu: lắng nghe, sau đó hít bầu không khí buổi sáng, thế là anh đã sẵn sàng cho một ngày mới.

Tuy nhiên, hôm nay phải khác hẳn ngày hôm trước. Không thể không khác.

Quá nhiều giọng, quá nhiều mùi đã không còn nữa! Hổ, báo, sói, gấu, tất cả đã bị thanh trừng bởi những người lính chiều hôm trước. Giờ đây, sau khi ngủ một đêm, viên bác sĩ thú y cảm thấy như những sự kiện đó là một phần của cơn ác mộng lờ đờ mà anh đã mơ từ lâu, lâu lắm. Nhưng anh biết, những sự kiện đó thực sự đã xảy ra. Tai anh vẫn còn đau âm ỉ vì tiếng gầm của những họng súng. Đó không thể là giấc mơ được. Giờ đang là tháng Tám năm 1945, và anh đang ở đây, thành phố Tân Kinh; quân đội Xô Viết đã tràn qua biên giới và mỗi giờ một áp sát hơn. Đây là thực tại – cũng thực như cái chậu và bàn chải răng mà anh đang thấy trước mặt mình.

Tiếng rống của lũ voi khiến anh thấy nhẹ lòng đôi chút. À vâng, lũ voi thì sống sót. May thay, viên trung úy trẻ đảm trách nhiệm vụ ngày hôm qua vẫn còn sự nhạy cảm thông thường của con người để loại lũ voi ra khỏi danh sách bị thanh trừng, bác sĩ thú y vừa rửa mặt vừa nghĩ. Từ khi tới Mãn Châu, anh đã gặp vô khối những tay sĩ quan trẻ kiêu ngạo và cuồng tín đến từ đất nước anh, và những cuộc gặp đó luôn luôn khiến anh sửng sốt. Hầu hết bọn họ là con nhà nông, tuổi niên thiếu của họ trôi qua trong thời kỳ suy thoái những năm 30, chìm trong thảm kịch đói nghèo, lại bị nhồi sọ bởi một chủ nghĩa dân tộc tự cao tự đại. Họ sẵn sàng tuân lệnh cấp trên mà không suy nghĩ, dù lệnh đó có kỳ quặc đến đâu. Nếu nhân danh Thiên Hoàng người ta ra lệnh cho họ đào một cái lỗ xuyên qua Trái Đất tới Brazil, họ sẽ chộp lấy xẻng đào ngay. Một số người gọi đây là sự thuần khiết, nhưng viên bác sĩ thú y có từ khác để gọi nó. Là con trai một bác sĩ ở thành thị, được giáo dục trong môi trường tương đối tự do của Nhật Bản trong thập niên 1920, viên bác sĩ thú y không bao giờ hiểu được những tay sĩ quan trẻ đó. Bắn chết dăm con voi lẽ ra còn dễ hơn nhiều so với đào hầm xuyên Trái Đất tới Brazil, nhưng gã trung úy ngày hôm qua, mặc dù nói năng hơi nhuốm giọng nhà quê, dường như là một kẻ mang nhiều tính người hơn so với những tay sĩ quan khác – có giáo dục hơn và biết suy xét hơn. Bác sĩ thú y cảm nhận được điều đó qua cách ăn nói và cư xử của người sĩ quan này.

Dù thế nào đi nữa, lũ voi đã không bị giết, và bác sĩ thú y tự nhủ, có lẽ anh cần phải biết ơn về điều ấy. Cả những người lính ắt cũng vui vì khỏi phải làm việc đó. Các công nhân Trung Hoa thì hẳn là tiếc hùi hụi vì lũ voi đã được tha mạng, không thì họ đã có thể tha hồ xẻ thịt và lấy ngà voi.

Bác sĩ thú y đun nước, thấm ướt râu bằng một cái khăn nóng rồi cạo râu.

Sau đó anh ăn điểm tâm một mình: trà, bánh mì và bơ. Suất ăn ở Mãn Châu còn lâu mới đủ no, nhưng so với những nơi khác thì vẫn còn hậu hĩ lắm.

Đây là tin tốt lành cho cả anh lẫn lũ thú. Bọn thú tỏ ra phẫn nộ khi phần ăn của chúng bị cắt giảm, nhưng tình hình ở đây còn tốt chán so với các sở thú ở quê nhà Nhật Bản, nơi nguồn thức ăn đã cạn kiệt đến mức không thể nào cạn kiệt hơn. Không ai tiên đoán được tương lai, nhưng ít nhất là hiện giờ, cả vật lẫn người đều chưa đến nỗi quá đói ăn.

Anh tự hỏi giờ này vợ và con gái đang làm gì. Họ đã trở về Nhật từ mấy hôm trước, nếu xuôi chèo mát mái thì giờ này chuyến tàu chở họ hẳn đã đến bờ biển Triều Tiên. Sau đó họ sẽ lên tàu biển về Nhật. Bác sĩ thèm được nhìn thấy họ như anh vẫn thấy mỗi buổi sáng khi thức dậy. Anh thèm được nghe giọng nói liến thoắng của hai mẹ con khi họ chuẩn bị bữa điểm tâm.

Một sự im lặng trống rỗng ngự trị căn nhà. Đây không còn là căn nhà mà anh từng yêu thương, nơi chốn mà anh từng là một phần của nó. Thế mà hiện giờ anh lại không thể không cảm thấy một niềm vui kỳ lạ khi được ở lại một mình trong cái chốn cư ngụ chính thức trống trơ này, giờ đây anh có thể cảm nhận được trong chính xương thịt mình cái sức mạnh bất khả cưỡng của số mệnh.

Số mệnh ở đây là căn bệnh chết người của chính viên bác sĩ thú y. Từ khi còn trẻ, anh đã có một nhận thức minh bạch kỳ lạ rằng ta, với tư cách cá nhân, đang sống dưới sự kiểm soát của một thế lực ở bên ngoài ta. Đây hẳn là vì vết bầm màu xanh dương sống động trên má phải của anh. Từ nhỏ, anh đã căm ghét vết bầm, cái dấu ấn này chỉ mình anh chứ không ai khác phải mang trên da thịt. Mỗi khi những đứa trẻ khác chòng ghẹo anh hay người lạ nhìn chằm chặp vào anh, anh chỉ muốn chết quách cho xong. Giá như có thể lấy dao cắt phăng phần cơ thể đó của mình đi thì tốt biết mấy! Nhưng khi trưởng thành, anh dần lặng lẽ chấp nhận vết bầm trên mặt mình, rằng nó sẽ chẳng bao giờ biến đi cả. Đây có thể là một nhân tố giúp anh hình thành nên một thái độ điềm tĩnh trước tất cả những gì liên quan đến số mệnh.

Hầu như bất cứ lúc nào, uy lực của số mệnh cứ dai dẳng như một bè đệm êm ả và đơn điệu chỉ tô thêm sắc màu cho những đường viền của cuộc đời anh. Hiếm khi anh nhớ tới sự tồn tại của nó. Nhưng cứ từng lúc, đột ngột, thế cân bằng thay đổi (mà cái gì điều khiển thế cân bằng đó thì anh không hề biết: anh không phát hiện được sự đều đặn lặp lại nào trong sự thay đổi đó); cái lực đó thường tăng lên, nhấn anh vào một trạng thái cam chịu gần như tê liệt. Những lúc đó, anh không có cách nào khác ngoài từ bỏ tất cả và phó mặc mình cho dòng chảy. Bằng kinh nghiệm anh biết, anh không thể làm hay nghĩ ra bất cứ cái gì để thay đổi tình thế. Số mệnh sẽ đòi phần của nó, và chừng nào chưa nhận được phần mình, nó sẽ không đi đâu cả. Anh tin chắc điều đó.

Chẳng phải vì anh là kẻ thụ động, thật ra, anh là người quyết đoán hơn hầu hết kẻ khác, anh luôn luôn thông suốt trong quyết định của mình. Trong nghề nghiệp cũng vậy, anh là người xuất chúng: một bác sĩ thú y có kỹ năng tuyệt vời, một nhà giáo dục không mệt mỏi. Có thể anh thiếu chút gì đó sáng tạo, nhưng hồi còn đi học anh luôn giành điểm cao và thường được chọn là học sinh đầu lớp. Ở nơi làm việc cũng vậy, ai cũng nhìn nhận rằng anh là người vượt trội, những người dưới đều ngưỡng mộ anh. Nhất định anh không phải là người theo thuyết định mệnh theo nghĩa người ta thường nghĩ. Thế nhưng, chưa bao giờ anh được nếm trải niềm xác tín vững chãi rằng chính anh chứ không phải ai khác là người quyết định mọi việc. Anh luôn luôn có cảm giác rằng chính số mệnh đã buộc anh phải quyết định việc này việc kia miễn sao lợi cho nó. Thảng hoặc, sau phút chốc hài lòng rằng mình đã quyết định điều gì đó bằng ý chí tự do, anh mới nhận ra rằng mọi việc đã được định đoạt từ trước bằng một thế lực ngoại tại nguỵ trang một cách khôn ngoan thành ý chí tự do, ấy chỉ là miếng mồi ném ra trước mặt anh để nhử cho anh hành xử như thể đó là do ý của chính anh. Những việc duy nhất anh đã tự mình quyết định một cách hoàn toàn độc lập thảy đều là những chuyện vặt vãnh mà nếu xét kỹ sẽ thấy thật ra chẳng cần phải quyết định gì hết. Anh thấy mình như một quốc vương trên danh nghĩa, chẳng biết làm gì khác ngoài việc ấn con triện hoàng gia lên các văn kiện theo lệnh một quan nhiếp chính, kẻ thật sự thao túng quyền lực trong vương quốc – khác nào vị hoàng đế của cái đế quốc bù nhìn Mãn Châu này.

Bác sĩ yêu vợ và con gái. Có vợ con là điều tuyệt diệu nhất từng xảy đến với anh, đặc biệt là con gái, người mà anh yêu đến gần như mê muội. Vì họ, anh có thể vui lòng hy sinh tính mạng mình. Mà thật, anh vẫn thường tưởng tượng như vậy, và trong tâm trí anh, những cái chết mà anh đã hứng chịu vì vợ con dường như là những cái chết ngọt ngào nhất người ta có thể tưởng tượng ra. Thế nhưng, mỗi khi đi làm về, nhìn thấy hai mẹ con, anh lại tự nhủ: Nói cho cùng, những kẻ này là những con người riêng biệt, mỗi người một cõi, ta không có mối liên hệ nào với họ hết. Họ là một cái gì đó khác mà anh không thực sự hiểu, tồn tại ở nơi nào đó rất xa bên ngoài anh. Và mỗi khi cảm thấy như vậy, anh lại thoáng qua ý nghĩ rằng thực ra anh đã không hề tự chọn lấy người này hay người nọ cho bản thân; tuy nhiên, điều đó không ngăn anh yêu thương họ vô điều kiện, quên mình. Đối với viên bác sĩ, đây là một nghịch lý lớn, một mâu thuẫn không thể giải quyết được, là cái bẫy khổng lồ giăng sẵn cho suốt cuộc đời anh.

Tuy nhiên, khi còn trơ lại một mình ở căn nhà trong vườn thú, anh cảm thấy cái thế giới mà mình thuộc về đã trở nên đơn giản hơn, dễ hiểu hơn nhiều.

Giờ anh chỉ còn mỗi việc chăm nom lũ thú. Vợ con đã đi rồi. Không cần nghĩ về họ nữa. Viên bác sĩ có thể ở một mình cùng định mệnh.

Mà trên tất cả, chính định mệnh, cái uy lực to lớn của định mệnh, chính nó mới là cái cầm chịch nơi đây, chứ không phải đội quân Quan Đông, không phải quân đội Xô Viết, không phải quân của Đảng cộng sản Trung Quốc hay của Quốc dân đảng. Ai cũng có thể thấy rằng chính định mệnh là chúa tể nơi đây, còn ý chí cá nhân chẳng là cái quái gì. Hôm trước, chính định mệnh đã tha mạng cho lũ voi nhưng chôn vùi lũ hổ, báo, sói và gấu. Còn hôm nay nó sẽ chôn vùi ai, và sẽ tha mạng cho ai? Đó là những câu hỏi không người nào có thể trả lời.

Viên bác sĩ thú y rời nhà để chuẩn bị cho bầy thú ăn sáng. Cứ đinh ninh sẽ chẳng ma nào tới làm việc nữa, nhưng anh lại gặp hai thằng bé Trung Hoa đang đợi anh ở văn phòng. Anh không biết chúng. Hai đứa trạc mười ba, mười bốn tuổi, gày gò, da đen xỉn, cặp mắt thú láo liên. Người ta bảo tụi cháu giúp ông, một đứa nói. Viên bác sĩ gật đầu. Anh hỏi tên chúng, nhưng hai đứa không trả lời. Gương mặt chúng vô cảm, như không hề nghe thấy câu hỏi. Hiển nhiên là hai đứa trẻ này do mấy người Trung Hoa vẫn còn làm việc ở đây cho tới ngày hôm qua cử đến. Có lẽ giờ đây những người đó đã chấm dứt mọi tiếp xúc với người Nhật để chờ chế độ mới, nhưng họ cho rằng trẻ con thì chắc sẽ không bị người ta hạch tội. Bọn trẻ được cử tới như một cử chỉ thiện chí. Các công nhân biết rằng bác sĩ sẽ không thể một mình xoay xở cho lũ thú ăn.

Viên bác sĩ cho mỗi đứa trẻ hai cái bánh quy, rồi cắt đặt công việc để chúng giúp anh cho lũ thú ăn. Họ dắt một chiếc xe la kéo từ chuồng này qua chuồng nọ, cho từng con thú ăn thức ăn dành riêng cho chúng và thay nước.

Lau rửa chuồng thì họ không làm. Giỏi lắm họ chỉ có thể lấy vòi phun qua loa cho sạch phân. Nói gì thì nói, vườn thú đang đóng cửa nên dù có khăm khẳm một chút thì cũng chẳng ai than phiền.

Hoá ra nhờ không còn hổ, báo, gấu và sói mà công việc lại nhẹ đi rất nhiều.

Chăm sóc lũ thú ăn thịt cỡ lớn vừa rất vất vả lại vừa nguy hiểm. Dù viên bác sĩ cảm thấy bứt rứt đến đâu khi bước ngang qua dãy chuồng của chúng nay trống rỗng, anh vẫn không nén được cảm giác nhẹ nhõm do không còn phải làm cái công việc kia.

Họ bắt đầu làm từ tám giờ và kết thúc lúc mười giờ hơn. Sau đó bọn trẻ biến mất mà không nói một lời. Bác sĩ cảm thấy kiệt sức vì làm việc vất vả.

Anh quay lại văn phòng để báo cáo với giám đốc vườn thú rằng bọn thú đã được cho ăn.

Ngay trước buổi trưa, viên trung uý quay lại vườn thú cùng với chính tám người lính mà y đã mang tới hôm qua. Cũng lại võ trang đầy mình, họ đi đến đâu là súng ống va leng keng đến đấy, người chưa xuất hiện mà từ xa đã nghe thấy tiếng. Áo họ lại cũng đen nhẻm vì mồ hôi. Ve sầu cũng kêu râm ran trên cây giống hôm qua. Tuy nhiên, hôm nay toán lính tới đây không phải để giết thú. Viên trung uý giơ tay chào giám đốc vườn thú rồi nói: Chúng tôi cần biết tình hình vườn thú hiện nay còn bao nhiêu xe kéo và vật kéo có thể sử dụng được. Giám đốc cho y hay, vườn thú có đúng một con la và một cái xe. Hai tuần trước chúng tôi đã đóng góp cho quân đội chiếc xe tải duy nhất cùng hai con ngựa, ông ta lưu ý. Viên trung uý gật đầu và thông báo rằng y sẽ trưng dụng ngay con la cùng chiếc xe, theo lệnh của Bộ Tư lệnh đội quân Quan Đông.

– Đợi một chút, – viên bác sĩ thú y cắt ngang.

– Chúng tôi cần cái xe với con la để cho thú ăn hai lần một ngày. Đám công nhân người địa phương của chúng tôi đi cả rồi. Không có con la với cái xe thì bọn thú sẽ chết đói. Dù có đi nữa thì chúng tôi cũng đã khó lòng trụ được rồi.

– Tất cả chúng ta đều khó lòng trụ được, thưa ông, – trung uý nói, cặp mắt đỏ ngầu, mặt lởm chởm râu ria.

– Ưu tiên hàng đầu của chúng ta là bảo vệ thành phố. Ông có thể thả bọn thú ra khỏi chuồng bất cứ lúc nào nếu cần.

Chúng tôi đã thanh toán xong đám thú ăn thịt nguy hiểm. Lũ còn lại thì chẳng gây hại cho ai. Đây là quân lệnh, thưa ông. Ông phải tự xoay xở lấy thôi.

Viên trung uý cắt ngang cuộc trò chuyện và ra lệnh cho binh lính đi lấy con la và chiếc xe. Khi họ đã đi khỏi, bác sĩ thú y và giám đốc vườn thú nhìn nhau. Giám đốc nhấp trà, lắc đầu, không nói gì.

Bốn tiếng đồng hồ sau, đám lính quay lại dẫn theo con la và chiếc xe goòng, trong xe có chất cái gì đó lù lù trồi lên, phủ kín bằng một tấm vải bạt dày. Con la thở hổn hển, sùi bọt mép vì cái nắng chang chang và phải kéo quá sức. Tám người lính dùng lưỡi lê điệu bốn người Trung Quốc đi đằng trước – đó là những người rất trẻ, hẳn chỉ độ hai mươi tuổi, mặc đồng phục bóng chày, tay trói quặt sau lưng. Những vết bầm tím trên mặt cho thấy rõ họ đã bị đánh tơi bời. Mắt phải của một người sưng húp đến nỗi hầu như nhắm tịt lại, người khác môi còn rỉ máu loang đỏ ối cả chiếc áo bóng chày màu sáng. Ngực áo họ không ghi chữ nào, nhưng có những hình chữ nhật nhỏ nơi mà bảng tên đã bị giật ra. Con số trên lưng họ là 1, 4, 7 và 9. Viên bác sĩ thú y không thể nào hình dung vì sao, tại đúng thời điểm nước sôi lửa bỏng này, bốn gã trai Trung Quốc kia lại mặc đồng phục bóng chày, hoặc vì sao họ bị đánh tơi bời và bị toán lính Nhật điệu tới đây. Quang cảnh có vẻ như không thuộc về thế giới này, mà là tranh vẽ của một bệnh nhân tâm thần.

Viên trung uý hỏi mượn giám đốc vườn thú vài cái cuốc, xẻng. Trông y còn xanh xao phờ phạc hơn trước. Bác sĩ dẫn y cùng đám lính tới chỗ giá để dụng cụ ở phía sau văn phòng. Viên trung uý chọn hai cái cuốc và hai cái xẻng cho toán lính. Rồi y bảo bác sĩ đi cùng y. Sau đó, bỏ đám lính lại, y đi về phía một bụi cây phía bên kia đường. Viên bác sĩ thú y theo sau. Viên trung uý đi tới đâu, những con châu chấu to đùng túa ra tán loạn tới đó. Mùi cỏ mùa hè thoảng trong không khí. Lẫn trong tiếng ve sầu kêu đinh tai, tiếng rống the thé của lũ voi từng chặp vẳng tới như một lời cảnh báo xa xăm.

Viên trung uý lẳng lặng đi giữa những hàng cây, cho đến khi tìm thấy một khoảng đất trống giữa khu rừng. Khu vực này đã được lát đá để xây một quảng trường dành riêng nuôi những con thú nhỏ cho trẻ con chơi. Tuy nhiên kế hoạch đó đã bị hoãn vô thời hạn do tình hình chiến sự ngày càng tồi tệ khiến vật liệu xây dựng trở nên khan hiếm. Cây cối đã bị dọn quang tạo thành một khoảnh đất tròn trơ trụi, mặt trời rọi sáng cái khoảnh đất này trong khu rừng như ánh đèn sân khấu. Viên trung uý đứng ngay giữa vòng tròn đó mà đưa mắt nhìn quanh. Rồi y sục sục gót giày xuống đất.

– Chúng tôi sẽ đóng quân ở đây một thời gian. – y vừa nói vừa quỳ gối xuống lấy tay vốc một nắm đất.

Bác sĩ thú y gật đầu để trả lời. Anh không hiểu nổi vì sao người ta lại phải đóng quân trong vườn thú, nhưng anh quyết định không hỏi. Ở Tân Kinh này, kinh nghiệm đã dạy anh chớ bao giờ đặt câu hỏi với đám quân nhân.

Những câu hỏi chỉ tổ làm họ nổi giận, và trong bất cứ trường hợp nào họ cũng không bao giờ trả lời thẳng vào câu hỏi.

Đầu tiên chúng tôi đào một cái lỗ to ở đây, viên trung uý nói như với chính mình. Y đứng dậy rút một gói thuốc lá từ trong ngực áo. Vừa cho một điếu lên mồm, y vừa mời viên bác sĩ thú y một điếu, sau đó y đánh diêm châm lửa cho cả hai. Hai người tập trung hút để lấp đầy sự im lặng. Viên trung uý lại lấy giày sục xuống mặt đất. Y vẽ một hình gì đó trên mặt đất rồi xoá đi. Cuối cùng, y hỏi viên bác sĩ thú y: Anh sinh ở đâu?

– Ở Kanawaga, – Bác sĩ nói.

– Tại một thị trấn gọi là Ofuna, gần biển, cách Tokyo chừng một hai giờ xe.

Viên trung uý gật đầu.

– Còn anh sinh ở đâu? – Bác sĩ thú y hỏi.

Thay vì trả lời, viên trung uý nheo mắt nhìn sợi khói bay lên từ giữa những ngón tay y. Không, đặt câu hỏi cho một quân nhân thì chẳng bao giờ được gì hết, bác sĩ thú y tự nhủ một lần nữa. Họ thích đặt câu hỏi nhưng họ sẽ không bao giờ trả lời anh. Có hỏi họ bây giờ là mấy giờ họ cũng không trả lời, thật sự là vậy.

– Ở đó có một xưởng phim, – viên trung uý nói.

Phải mất mấy giây bác sĩ thú y mới hiểu ra rằng tay trung uý đang nói về Ofuna. Đúng vậy, một xưởng phim lớn. Nhưng tôi chưa vào đó bao giờ.

Viên trung uý thả điếu thuốc hút dở xuống mặt đất rồi dí chân lên. – tôi hy vọng anh sẽ có thể quay về đó, – y nói.

– Dĩ nhiên, từ đây về Nhật Bản còn phải băng qua một đại dương. Có lẽ tất cả chúng ta sẽ chết ở đây.

– Y vừa nói vừa nhìn đăm đăm xuống đất.

– Nói tôi nghe, bác sĩ, anh có sợ chết không? – tôi cho rằng còn tuỳ anh chết theo cách nào, – viên bác sĩ thú y nói sau một thoáng suy nghĩ.

Trung uý ngước mắt lên nhìn viên bác sĩ như thể bị khơi gợi trí tò mò. Rõ ràng là y chờ đợi một câu trả lời khác.

– Anh nói đúng, – y nói.

– Điều đó còn tuỳ anh chết theo cách nào.

Hai người im lặng một lát. Nom bộ dạng viên trung uý, y có thể đứng nguyên vậy mà ngủ gục tới nơi. Rõ ràng y đã sức cùng lực kiệt. Một con châu chấu to lạ lùng đập cánh vù vù bay qua trên đầu họ như một con chim rồi biến mất trong một bụi cỏ đằng xa. Trung uý liếc đồng hồ.

– Tới giờ rồi, – y nói mà không rõ là với ai. Rồi y bảo với viên bác sĩ thú y. – tôi muốn anh ở lại đây một lát. Có thể tôi sẽ nhờ anh làm một việc.

Viên bác sĩ thú y gật đầu.

Đám lính dẫn các tù nhân Trung Hoa ra khoảng trống trong rừng rồi tháo dây trói. Tay hạ sĩ dùng gậy bóng chày vẽ một vòng tròn trên mặt đất – viên bác sĩ thú y lại thấy thêm một điều huyền bí: tại sao người lính lại có cây gậy bóng chày – rồi dùng tiếng Nhật ra lệnh những người tù đào một cái hố sâu có kích thước bằng vòng tròn đó. Bốn người đàn ông mặc đồng phục bóng chày dùng cuốc xẻng lẳng lặng đào. Phân nửa đội lính Nhật canh chừng đám tù nhân, nửa kia nằm dài ra dưới bóng cây. Dường như họ đang buồn ngủ đến chết được, vừa đặt lưng xuống đất, họ liền ngáy ngay tức thì.

Bốn người lính còn lại vẫn thức canh chừng việc đào hố, súng gác ngang hông, mũi lê cắm đầu họng súng, sẵn sàng sử dụng ngay lập tức. Viên trung uý và viên hạ sĩ thay phiên nhau, người giám sát công việc, kẻ tranh thủ chợp mắt dưới bóng cây.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ, bốn tù nhân Trung Hoa đã đào xong một cái hố đường kính khoảng bốn mét, sâu tới cổ. Một người hỏi xin nước bằng tiếng Nhật. Viên trung uý gật đầu, tên lính liền xách lại một xô nước đầy.

Bốn người Trung Hoa lần lượt tợp nước trong xô, nốc ừng ực, vẻ khoan khoái ra mặt. Họ gần như uống cạn cả xô nước. Đồng phục họ mặc gần như đen nhẻm máu, bùn và mồ hôi.

Viên trung uý ra lệnh cho hai người lính kéo chiếc xe goòng tới gần cái hố.

Tay hạ sĩ giật tấm vải bạt ra để lộ bốn xác chết chất đống trong xe. Mấy cái xác cũng mặc đồng phục bóng chày như các tù nhân, và hiển nhiên cũng là người Trung Hoa. Hẳn là họ đã bị bắn chết, đồng phục của họ nhoè nhoẹt máu đen kịt. Những con ruồi to tướng bắt đầu bâu lấy đống xác. Xét qua những chỗ máu đông, bác sĩ đoán rằng họ đã chết được khoảng hai mươi bốn tiếng đồng hồ.

Viên trung uý ra lệnh cho bốn tù nhân Trung Hoa ném mấy tử thi xuống cái hố họ vừa đào xong. Mặt trắng bệch, chẳng nói chẳng rằng, các tù nhân lôi mấy cái xác ra khỏi chiếc xe goòng rồi ném từng cái một xuống hố. Mỗi cái xác rơi chạm đất đánh bịch một tiếng trầm đục. Con số in trên đồng phục của mấy người chết là 2, 5, 6 và 8. Viên bác sĩ thú y ghi nhớ mấy con số.

Khi mấy người Trung Hoa đã ném xác xuống hố xong, mấy tên lính trói mỗi người vào một gốc cây gần đó. Viên trung uý chìa cổ tay ra nhìn đồng hồ với vẻ nghiêm trang. Rồi y ngẩng lên nhìn hồi lâu một điểm trên bầu trời như thể tìm cái gì ở đó. Y giống như tay trưởng nhà ga đứng trên sân ga đợi một đoàn tàu đã quá trễ giờ. Nhưng thật ra y chẳng nhìn gì hết. Y chỉ muốn để cho một khoảng thời gian nào đó trôi qua. Thời gian chờ đợi đã qua, y quay về phía viên hạ sĩ và cộc lốc ra lệnh đâm chết ba trong bốn tù nhân – mang số 1, 7 và 9 – bằng lưỡi lê.

Ba binh sĩ được chọn ra để đứng vào vị trí trước mặt ba người Trung Hoa.

Mấy người lính thậm chí còn xanh xao hơn cả những kẻ mà họ sắp sửa giết.

Mấy người Trung Hoa có vẻ mệt mỏi tới mức không còn trông mong bất cứ cái gì. Viên hạ sĩ mời mỗi người một điếu thuốc, nhưng họ từ chối. Y đút gói thuốc vào lại túi áo.

Tay trung uý kéo viên bác sĩ thú y ra đứng cách những người lính khác một quãng. Anh nên xem vụ này, y nói. Đây là một cách chết khác.

Bác sĩ gật đầu. Tay trung uý không nói câu này với mình, anh nghĩ. Y đang nói với chính y.

Bằng giọng dịu dàng, viên trung uý giải thích: _Bắn có lẽ là cách đơn giản và hiệu quả nhất để giết chúng, nhưng chúng tôi được lệnh không phí phạm dù chỉ một viên đạn, nhất là không được phí đạn để giết người Trung Hoa.

Chúng tôi phải để dành đạn cho bọn Nga. Bọn này chúng tôi chỉ giết bằng lưỡi lê, nghe thì dễ, nhưng không phải đâu. Mà này, bác sĩ, trong quân đội người ta có dạy anh cách dùng lưỡi lê không? Viên bác sĩ giải thích rằng anh là bác sĩ thú y nên không được huấn luyện dùng lưỡi lê.

– Giết người bằng lưỡi lê cho đúng cách thì phải làm thế này: Trước tiên, phải thọc lưỡi lê vào dưới xương sườn, ở đây này.

– Viên trung uý chỉ vào thân thể chính mình, ngay phía trên dạ dày.

– Kế đó phải ngoáy lưỡi lê thành một vòng tròn rộng, sâu bên trong cơ thể tử tội, để xáo tung các cơ quan nội tạng. Sau đó thì thọc lên trên để đâm thủng tim. Đừng mong chỉ thọc lưỡi lê vào mà hắn chết được. Lính tráng chúng tôi được người ta dạy tới điều này không biết bao nhiêu lần. Đánh nhau tay đôi bằng lưỡi lê và tập kích ban đêm là niềm tự hào của quân đội Thiên Hoàng, mặc dù chủ yếu vì đánh nhau kiểu này rẻ hơn nhiều so với xe tăng, máy bay và đại bác. Dĩ nhiên, huấn luyện gì mà chẳng được, nhưng nói gì thì nói, anh cũng chỉ đâm một con búp bê nhồi rơm chứ đâu phải một thằng người thật. Nó không chảy máu, không biết thét lên, cũng không đổ ruột xuống đất. Mấy thằng lính đây đã bao giờ thật sự giết người bằng cách này đâu. Tôi cũng chưa hề.

Viên trung uý nhìn tay hạ sĩ và gật đầu. Viên hạ sĩ quát to ra lệnh cho ba tên lính vừa lập tức lấy tư thế nghiêm. Thế rồi ba tên lính lùi lại nửa bước và chĩa lưỡi lê ra, hướng mũi lê về phía vào mỗi người tù. Một trong ba người Trung Hoa (số 7) gầm gừ mấy chữ bằng tiếng Trung Hoa nghe như một lời rủa và nhổ nước bọt với vẻ ngang tàng – đống nước bọt chẳng bao giờ chạm đất mà dây rớt vào vạt trước bộ đồng phục bóng chày của anh ta.

Nghe lệnh kế tiếp, ba tên lính vận hết sức bình sinh thọc lưỡi lê vào mình mấy người Trung Hoa. Sau đó, như viên trung uý đã nói, họ ngoáy lưỡi lê để xé toạc lục phủ ngũ tạng các tù nhân, rồi thọc mũi lê về phía trên. Tiếng kêu của mấy người Trung Hoa không quá to; chúng giống như những tiếng nấc trầm trầm hơn là tiếng thét, như thể họ đang trút sạch ra ngoài toàn bộ hơi thở còn sót lại trong người qua một lỗ thoát duy nhất. Đám lính rút lưỡi lê ra, lùi lại. Viên hạ sĩ lại quát to ra lệnh, và đám lính lại lặp lại quy trình giống hệt như trước – thọc, ngoáy, chọc lên trên, rút ra. Viên bác sĩ thú y chết lặng nhìn cảnh đó, bị choáng ngợp bởi cảm giác mình đang bắt đầu bị tách làm hai. Anh đồng thời trở thành kẻ đâm và kẻ bị đâm. Anh có thể cảm thấy cả tác động của lưỡi lê khi nó thọc vào cơ thể nạn nhân lẫn cái đau khi tạng phủ của chính mình bị xé thành từng mảnh.

Mấy người Trung Hoa lâu chết hơn anh tưởng nhiều. Thân thể họ bị xé toang, tuôn máu xối xả lên mặt đất, nhưng thậm chí dù nội tạng đã bị xé ra từng mảnh, họ vẫn khẽ giật giật thêm hồi lâu. Tay hạ sĩ dùng lưỡi lê của chính mình để cắt dây thừng trói những người đàn ông vào mấy gốc cây, sau đó y hạ lệnh cho mấy tên lính nãy giờ không tham gia vào việc hạ sát lôi những cái xác vừa sụm xuống đất kia mà vứt xuống hố. Những cái xác này khi chạm đáy hố cũng phát ra một tiếng đùng đục, nhưng bác sĩ không khỏi cảm thấy âm thanh này khác với âm thanh phát ra bởi mấy cái xác trước kia. Có lẽ vì những người này chưa chết hẳn.

Giờ chỉ còn sót lại người tù Trung Hoa trẻ tuổi mang áo số 4. Ba người lính mặt tái nhợt xé lá dưới chân chùi lấy chùi để những lưỡi lê đẫm máu. Lưỡi lê không chỉ nhuộm máu mà còn vấy những chất lỏng cơ thể có mầu sắc kỳ lạ và dính những tảng thịt. Đám lính phải dùng rất nhiều lá mới trả được những lưỡi lê về màu kim loại trơn ban đầu.

Viên bác sĩ thú y tự hỏi tại sao chỉ một mình người số 4 vẫn còn sống, nhưng anh không nói gì. Viên trung úy lấy ra thêm một điếu thuốc rồi châm lửa. Y mời bác sĩ một điếu, anh này lặng lẽ nhận, đút vào giữa hai môi rồi tự châm lửa lấy. Tay anh không run, dường như nó mất hết cảm giác, như thể anh đang mang găng tay dày.

– Mấy tên này là học viên trường Dự bị Sĩ quan Quân đội Mãn Châu quốc, – viên trung úy nói.

– Chúng từ chối tham gia phòng thủ Tân Kinh. Đêm qua chúng giết hai vị thầy người Nhật rồi tìm cách bỏ trốn. Chúng tôi tóm được chúng trong khi tuần đêm, giết bốn thằng ngay tại chỗ và bắt sống bốn đứa.

Trời tối thành thử có hai đứa thoát được.

– Viên trung úy dùng lòng bàn tay xát râu cằm.

– Chúng toan trốn thoát bằng cách mặc đồng phục bóng chày.

Tôi đoán chúng cho rằng nếu bị bắt trong khi đang mặc quân phục thì sẽ bị khép vào tội đào ngũ. Hoặc có thể bọn này sợ quân đội Cộng sản sẽ làm thịt chúng nếu gặp chúng mặc quân phục Mãn Châu quốc. Dù thế nào đi nữa, ngoài đồng phục học viên sĩ quan thì ở trại cả bọn chỉ có mỗi bộ đồng phục bóng chày. Thế là chúng xé mấy cái tên in trên đó ra rồi tìm cách mặc bộ đồng phục đó chạy trốn. Tôi không rõ anh có biết việc này không, trường sĩ quan có một đội bóng chày rất cừ. Tụi nó thường sang Đài Loan và Triều Tiên thi đấu giao hữu. Thằng đó, – viên trung úy chỉ về phía gã trai đang bị trói vào thân cây, là đội trưởng và là tay đánh chính(11). Chúng tôi cho rằng cũng đích thị hắn bày ra trò đào tẩu này. Hắn giết hai ông thầy Nhật bằng một cây gậy bóng chày. Các ông thầy biết ở trại đang có chuyện lôi thôi nên sẽ chẳng bao giờ phát vũ khí cho đám học viên ngoại trừ trong trường hợp tối khẩn. Nhưng họ quên mấy cây gậy bóng chày. Cả hai người đều bị đánh toác sọ. Có lẽ họ đã chết ngay tức khắc. Hai cú đánh không chê vào đâu được. Cây gậy đó đây.

Viên trung úy ra lệnh cho hạ sĩ đem cây gậy tới. Y chuyển cây gậy cho anh bác sĩ thú y. Anh này cầm lấy bằng hai tay, chìa nó ra trước mặt, kiểu như một đấu thủ đang bước vào vị trí đánh bóng. Đó chỉ là một cây gậy bình thường, chế tác không khéo lắm, đầu tù tù, vân không đều. Tuy nhiên nó khá nặng, đã dùng nhiều. Tay cầm đen nhẻm vì mồ hôi. Trông nó không có vẻ gì là một chiếc gậy vừa được dùng để giết hai mạng người. Sau khi cảm nhận sức nặng của cây gậy, bác sĩ đưa trả cho viên trung úy. Tay này cầm lấy vụt vài cái nhẹ nhàng ra vẻ một tay chơi nhà nghề.

– Anh có chơi bóng chày không? – trung úy hỏi viên bác sĩ.

– Hồi còn nhỏ thôi.

– Giờ thì lớn quá rồi hay sao?

– Không còn bóng chày bóng chiếc gì nữa, – bác sĩ nói. Suýt nữa anh đã hỏi Thế còn anh, trung úy?, nhưng kịp nuốt mấy chữ ấy lại. – tôi được lệnh đánh chết thằng này bằng chính cây gậy mà nó đã dùng, – viên trung úy vừa nói bằng giọng khô khan vừa lấy đầu gậy chọc chọc xuống đất.

– Ăn miếng trả miếng. Nói riêng giữa tôi với anh thôi nhé, tôi thấy cái lệnh này thật là thối. Đi giết mấy thằng nhóc này thì lợi lộc chó gì? Chúng ta chẳng còn cái máy bay nào, tàu chiến cũng không, những đơn vị thiện chiến nhất đi tong hết rồi. Mới mấy hôm trước một thứ bom đặc biệt nào đó đã quét sạch cả thành phố Hiroshima trong có một giây. Hoặc chúng ta sẽ bị quét sạch khỏi Mãn Châu hoặc chúng ta sẽ bị giết cả lũ, rồi Trung Hoa lại thuộc về người Trung Hoa thôi. Chúng ta đã giết quá nhiều người Trung Hoa rồi, giết thêm vài mạng thì có khác gì. Nhưng lệnh là lệnh. Tôi là người lính thì phải tuân lệnh. Hôm qua chúng tôi đã giết lũ hổ và báo, hôm nay chúng tôi phải giết mấy gã trai này. Thành thử, hãy nhìn cho kỹ, bác sĩ ạ. Đây là một cách chết khác dành cho con người. Anh là bác sĩ, chắc anh đã quen với dao kéo, máu me, gan ruột, nhưng chắc hẳn anh chưa từng thấy ai bị đánh đến chết bằng gậy bóng chày.

Viên trung úy ra lệnh cho tay hạ sĩ dẫn gã số 4, tay đánh chính, đến cạnh mép hố. Một lần nữa người ta trói quặt tay anh ta sau lưng, bịt mắt rồi buộc anh quỳ xuống đất. Anh ta là một gã trai cao lớn, vạm vỡ, hai cánh tay đồ sộ to cỡ bắp đùi người thường. Viên trung úy gọi một tay lính trẻ tới, đưa cho cậu ta cây gậy. Giết nó bằng cái này, y nói. Tay lính trẻ đứng nghiêm chào trước khi nhận cây gậy, nhưng sau khi đã cầm nó trên tay, hắn vẫn đứng đực ra như hóa đá. Dường như hắn không thể hình dung nổi cái khái niệm đánh chết một người Trung Hoa bằng một cây gậy bóng chày.

– Cậu đã bao giờ chơi bóng chày chưa?

– Viên trung úy hỏi tay lính (kẻ mà rốt cuộc sẽ bị một cai tù người Xô Viết dùng xẻng đánh toác sọ trong một khu mỏ gần Irkutsk).

– Thưa ngài, chưa bao giờ, – tay lính đáp rõ to. Cả ngôi làng ở Hokkaido nơi hắn chào đời lẫn ngôi làng ở Mãn Châu nơi hắn lớn lên đều nghèo rớt mồng tơi đến nỗi cả bên này lẫn bên kia chẳng gia đình nào đủ tiền để đụng tới những thứ xa xỉ như bóng chày hay gậy bóng chày. Suốt thời niên thiếu y chạy tung tăng ngoài đồng, bắt chuồn chuồn và chơi trò đánh kiếm gậy với chúng bạn. Cả đời y chưa hề chơi bóng chày, thậm chí chưa hề xem một trận bóng chày. Đây là lần đầu tiên y cầm một cây gậy bóng chày.

Viên trung úy liền chỉ cho hắn cách cầm gậy, dạy hắn những điểm cơ bản về cách dùng gậy đánh, rồi tự mình thị phạm mấy lần.

– Hiểu chưa? Quan trọng là hai bên hông, – y làu bàu, răng nghiến chặt.

– Lùi lại lấy thế, rồi xoay người từ thắt lưng trở xuống. Đầu gậy sẽ tự động di chuyển theo. Hiểu chưa? Nếu tập trung quá nhiều vào việc vung gậy thì toàn bộ lực của cậu sẽ dồn vào hai cánh tay, cú đánh sẽ mất uy vũ. Phải vặn người từ dưới hông.

Tên lính xem ra không hiểu lắm những gì trung úy nói, nhưng hắn vẫn nhấc cái dụng cụ nặng trịch của hắn lên theo lệnh và vụt qua vụt lại một hồi để tập. Ai nấy đều quan sát hắn. Viên trung úy đặt tay lên tay hắn để giúp điều chỉnh tư thế cầm gậy. Y là một giáo viên cừ. Chẳng mấy chốc, cú đánh của tên lính, tuy còn đôi chút vụng về, đã vung lên mạnh mẽ trong không trung.

Kỹ thuật thì tên lính còn thiếu, bù lại y có sức lực cơ bắp nhờ đã quen công việc đồng áng.

– Được rồi, – viên trung úy vừa nói vừa lấy mu bàn tay lau mồ hôi rịn ra trên lông mày.

– Giờ làm đi, cố vụt một cái duy nhất cho ra trò. Đừng để nó đau đớn.

Thật ra điều y muốn nói là: Tao cũng chẳng muốn làm việc này hơn gì mày. Ai đời lại nghĩ ra một trò ngu xuẩn như vậy cơ chứ? Giết người bằng gậy bóng chày… Nhưng phàm là sĩ quan thì không bao giờ có thể nói như vậy với binh lính.

Tên lính bước lại phía sau người Trung Hoa bị bịt mắt đang quỳ trên mặt đất. Khi tên lính nâng gậy lên, những tia nắng chói của mặt trời đang lặn hắt cái bóng dài, bè bè của cây gậy lên mặt đất. Thật là gở, viên bác sĩ thú y nghĩ. Tay trung úy nói đúng: ta chưa bao giờ thấy ai bị giết bằng gậy bóng chày. Tên lính giữ cây gậy trên không một hồi lâu. Bác sĩ thấy đầu gậy run run.

Viên trung úy gật đầu với tay lính. Gã này hít một hơi dài, lùi lại lấy thế rồi lấy hết sức bình sinh quật cây gậy vào phía sau đầu tay học viên sĩ quan Trung Hoa. Hắn làm việc đó cừ khôi lạ lùng. Hắn xoay hông đúng hệt như viên trung úy đã dạy, nhãn hiệu của cây gậy giáng thẳng vào phía sau tai gã trai, gậy cứ thế theo sau, chính xác không chê vào đâu được. Có một âm thanh nứt gãy đùng đục, đó là hộp sọ bị vỡ. Bản thân gã trai không kêu một tiếng. Thân hình y treo trên không một hồi trong tư thế kỳ lạ rồi đổ vật về phía trước. Y nắm úp má xuống đất, máu tuôn từ một bên tai. Y không cục cựa. Viên trung úy nhìn đồng hồ. Tên lính trẻ vẫn nắm chặt cây gậy bóng chày, nhìn trân trối vào khoảng không, miệng há hốc.

Viên trung úy là người làm việc gì cũng chi li cẩn trọng. Y đợi hẳn một phút. Khi đã tin chắc gã trai Trung Hoa kia hoàn toàn không động đậy, y bèn bảo viên bác sĩ thú y: Anh làm ơn kiểm tra xem hắn đã chết hẳn chưa.

Viên bác sĩ gật đầu, đi lại phía gã trai Trung Hoa đang nằm, quỳ xuống gỡ dải băng bịt mắt y. Mắt người đàn ông mở to, con ngươi trợn ngược, máu đỏ tươi từ trong tai túa ra. Miệng y hé mở để lộ cái lưỡi cong vẹo bên trong.

Cú đánh làm cho cổ của y vặn nghiêng thành một góc kỳ lạ. Lỗ mũi y thốc ra từng bụm máu đặc, làm thành những vết ố đen sịt trên mặt đất khô. Một con ruồi đặc biệt nhạy – và đặc biệt lớn – đã bay vù vù về phía một trong hai lỗ mũi để đẻ trứng. Bác sĩ cầm lấy cổ tay y để bắt mạch, chỉ để cho chắc. Mạch không còn, dĩ nhiên không còn mạch ở chỗ lẽ ra phải có. Tên lính trẻ đã kết liễu cuộc đời gã đàn ông sức tày Hạng Võ này bằng một cú gậy bóng chày duy nhất, cú đánh đầu tiên bằng gậy bóng chày trong đời hắn. Viên bác sĩ thú y nhìn viên trung úy gật đầu, ra hiệu rằng gã đàn ông quả thật đã chết, chẳng nghi ngờ gì nữa. Làm xong nhiệm vụ, anh bắt đầu chầm chậm đứng lên khi cảm thấy mặt trời chiếu sau lưng bỗng trở nên càng chói gắt.

Đúng lúc đó, gã cầu thủ bóng chày người Trung Hoa trẻ tuổi mang số 4 ngồi dậy như vừa mới tỉnh giấc. Không một chút hồ nghi hoặc phân vân – hay có lẽ những người có mặt chỉ cảm thấy như vậy? – y túm lấy cổ tay viên bác sĩ. Mọi chuyện xảy ra trong có một giây. Viên bác sĩ không hiểu nổi; gã này đã chết, anh tin chắc điều đó. Thế mà lúc này, nhờ một giọt sức sống cuối cùng dường như vọt lên chẳng biết từ đâu, gã đàn ông đang siết cổ tay viên bác sĩ, mạnh như cái kìm thép. Mí mắt căng hết cỡ, con ngươi vẫn lộn ngược lên trên, gã trai trẻ ngã chúi xuống hố kéo theo bác sĩ. Viên bác sĩ ngã xuống bên trên y và nghe rõ tiếng xương sườn của y gãy răng rắc khi khối nặng thân thể y chạm đất. Thế mà gã cầu thủ bóng chày người Trung Hoa vẫn tiếp tục siết cổ tay anh. Những người lính thấy toàn bộ cảnh đó, nhưng họ sửng sốt đến nỗi không làm được gì khác ngoài đứng nhìn.

Viên trung úy trấn tĩnh trước tiên, bèn nhảy xuống hố. Y rút súng lục ra khỏi vỏ, chĩa họng súng vào đầu gã Trung Hoa, bóp cò ba lần. Hai tiếng rắc sắc lạnh, lẫn vào nhau vang lên, một cái lỗ lớn màu đen mở hoác ra nơi thái dương gã đàn ông. Giờ thì sự sống của y đã tắt hẳn, thế nhưng y vẫn chưa chịu buông cổ tay viên bác sĩ. Trung úy quỳ xuống, một tay cầm súng, tay kia khó nhọc gỡ dần từng ngón tay của cái xác chết. Bác sĩ nằm trong hố, xung quanh là tám xác chết Trung Hoa câm lặng mặc đồng phục bóng chày.

Dưới đáy hố, tiếng kêu ran ran của ve sầu nghe rất khác với ở trên mặt đất.

Sau khi viên bác sĩ thú y đã thoát khỏi bàn tay siết của người chết, bọn lính kéo anh và viên trung úy lên khỏi cái huyệt. Bác sĩ ngồi bệt xuống cỏ, thở mấy hơi thật sâu. Rồi anh nhìn cổ tay mình. Những ngón tay của gã trai để lại năm cái dấu đỏ lựng. Đang giữa buổi chiều tháng Tám nồng nực mà bác sĩ cảm thấy lạnh thấu ruột thấu gan. Ta sẽ không bao giỡ rũ được cái lạnh này nữa, anh nghĩ. Gã đàn ông đó quả thật đã ra sức lôi ta theo tới bất cứ chốn nào y tới.

Viên trung úy cài lại khóa an toàn rồi cẩn thận đút súng lục vào bao. Đây là lần đầu tiên y nã súng lục vào một con người. Nhưng y cố không nghĩ về điều đó. Chiến tranh sẽ còn tiếp diễn ít nhất là một thời gian nữa, người ta sẽ tiếp tục chết nữa. Chuyện nghiền ngẫm sâu xa này nọ, y có thể để dành về sau. Y chùi lòng bàn tay mướt mồ hôi vào quần rồi ra lệnh cho những tên lính ban nãy không tham gia hành hình lấp hố lại. Một bầy ruồi kếch xù đã đến để săn sóc đống xác chết.

Tay lính trẻ vẫn đứng trơ ra đó, như hóa đá, tay nắm chặt cây gậy bóng chày. Dường như hắn không thể nào buông tay ra. Viên trung úy và hạ sĩ để hắn đứng một mình. Có vẻ như hắn đã quan sát toàn bộ chuỗi sự kiện quái đản kia – gã Trung Hoa đã chết bất ngờ chộp lấy cổ tay viên bác sĩ thú y, cả hai ngã xuống cái huyệt, viên trung úy nhảy vào kết liễu đời gã Trung Hoa, còn bây giờ đám lính đang lấp hố lại. Nhưng kỳ thực hắn chẳng quan sát bất cứ cái gì. Hắn lắng nghe một con chim trên cây ở đâu đó đang kêu Quick! Quick như thể đang vặn một sợi dây cót. Tên lính ngước lên, cố định vị xem tiếng kêu phát ra từ hướng nào, nhưng không thấy tăm hơi gì của con chim vặn dây cót. Hắn thấy hơi buồn nôn trong cổ họng.

Trong khi nghe tiếng vặn dây cót, tên lính trẻ nhìn thấy những hình ảnh theo nhau rời rạc hiện lên rồi mờ đi trước mắt hắn. Sau khi quân Nhật bị quân đội Xô Viết tước vũ khí, tay trung úy sẽ bị bàn giao cho người Trung Hoa, y sẽ bị treo cổ vì trách nhiệm của y trong những cuộc hành hình này.

Viên hạ sĩ sẽ chết vì bệnh dịch hạch tại một trại tập trung ở Siberia: hắn sẽ bị ném vào một lều cách ly rồi bỏ mặc đó đến chết, mặc dù trên thực tế hắn chỉ gục ngã vì thiếu ăn và không hề mắc bệnh dịch hạch, ít nhất là không mắc bệnh trước khi bị ném vào lều cách ly. Viên bác sĩ thú y sẽ chết vì tai nạn một năm sau: là thường dân, anh ta sẽ bị người Liên Xô đưa đi phục vụ cho quân đội, sẽ làm việc nặng nhọc ở một trại tập trung Siberia khác, anh đang làm việc ở tầng sâu trong một mỏ than Siberia thì một trận lũ sẽ cuốn phăng anh cùng với nhiều người lính. Còn mình… tên lính trẻ nghĩ, tay nắm chặt chiếc gậy bóng chày – nhưng hắn không thể nhìn thấy tương lai của chính mình. Thậm chí hắn không thể nhìn thấy những sự kiện đang xảy ra ngay trước mắt. Hắn nhắm mắt lại lắng nghe tiếng kêu của con chim vặn dây cót.

Thế rồi, bất chợt, hắn nghĩ tới đại dương – cái đại dương mà hắn nhìn thấy từ trên boong con tàu đã đưa hắn từ Nhật sang Mãn Châu tám năm về trước.

Cho tới khi đó hắn chưa hề nhìn thấy đại dương, từ đó đến giờ cũng không một lần thấy lại. Hắn vẫn còn nhớ rõ mùi không khí mằn mặn. Đại dương là một trong những điều kỳ diệu nhất hắn từng thấy trong đời – lớn lao và sâu thẳm hơn bất cứ cái gì hắn từng hình dung. Nó thay đổi mầu sắc, hình dạng và sắc thái tùy theo thời điểm, nơi chốn và thời tiết. Nó làm dậy lên một nỗi buồn sâu sắc trong lòng hắn, đồng thời lại mang đến cho lòng hắn sự bình an khuây khỏa. Liệu có bao giờ hắn lại thấy biển nữa không? Hắn nới lỏng tay buông chiếc gậy bóng chày xuống đất. Cây gậy chạm đất vang lên một tiếng khô khốc. Sau khi cây gậy rời khỏi tay, hắn thấy buồn nôn hơn một chút.

Con chim vặn dây cót vẫn tiếp tục kêu, nhưng không ai khác nghe thấy tiếng kêu của nó.

Đây là hết Biên niên ký sự Chim vặn dây cót số 8.

nhavantuonglai

Share:
Quay lại.

Có thể bạn chưa đọc

Xem tất cả »
Thích Nhất Hạnh | Gieo trồng hạnh phúc (Chương 31)

Thích Nhất Hạnh | Gieo trồng hạnh phúc (Chương 31)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Thích Nhất Hạnh | Hỏi đáp từ trái tim (Chương 04)

Thích Nhất Hạnh | Hỏi đáp từ trái tim (Chương 04)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Thích Nhất Hạnh | Sợ hãi

Thích Nhất Hạnh | Sợ hãi

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sáng lập tông phái Làng Mai, được coi là nguồn cảm hứng chính cho Phật giáo dấn thân, khai sáng chánh niệm giúp con người tĩnh tâm, hạnh phúc và hòa hợp với thiên nhiên.

Luôn sẵn sàng hỗ trợ khi bạn cần

Hỗ trợ nhanh

Bạn có thể liên lạc trực tiếp với nhavantuonglai qua số hotline đính kèm dưới đây, hoặc Instagram nếu không thích nghe điện thoại cho bất kỳ vấn đề, rắc rối nào phát sinh trong quá trình đọc lẫn trong cuộc sống của bạn.

Hỗ trợ chuyên nghiệp

Bạn có thể viết thư và gửi theo địa chỉ đính kèm dưới đây trong trường hợp cần trao đổi chi tiết, chuyên nghiệp về vấn đề bản thân, hợp tác đôi bên hoặc bất kỳ thắc mắc nào muốn được trao đổi chi tiết.

Hỗ trợ trực tiếp

Bạn có thể đề xuất buổi hẹn gặp trực tiếp trong trường hợp cho rằng vấn đề cần trao đổi chỉ có thể làm rõ thông qua đối thoại trực tiếp. Hãy liên hệ với nhavantuonglai theo các thông tin đính kèm dưới đây để sắp xếp.

Hotline

+84 88 686 7749

Email cá nhân

info@nhavantuonglai.com

Địa chỉ

Da Nang | Hue