Giải mã sự thật đằng sau thống kê di cư toàn cầu | nhavantuonglai
Một giọt mưa có thể một ngày nào đó gặp ánh sáng ở một vị trí nhất định để tạo ra cầu vồng, nhưng điều đó có nghĩa là cầu vồng có thật bên trong giọt mưa không?

Giải mã sự thật đằng sau thống kê di cư toàn cầu

Một giọt mưa có thể một ngày nào đó gặp ánh sáng ở một vị trí nhất định để tạo ra cầu vồng, nhưng điều đó có nghĩa là cầu vồng có thật bên trong giọt mưa không?

13 phút đọc  · lượt xem.

Thống kê di cư nên được xem xét một cách thận trọng, vì chúng rất khó phân tích chính xác và dễ bị thao túng nhằm phục vụ lợi ích chính trị.

Mở đầu

Ngày nay, một người di cư được định nghĩa đơn giản là bất kỳ ai vượt qua biên giới quốc tế. Nhưng ngoài định nghĩa cơ bản đó, cách phân loại di cư có thể khác nhau đáng kể. Liệu một chuyến đi trong ngày có được tính không? Một chuyến thăm kéo dài một tháng thì sao? Sinh viên, khách du lịch và doanh nhân có nên được xem là người di cư không? Bên cạnh những câu hỏi này, còn có những vấn đề thường gặp khi làm việc với thống kê, từ việc lưu trữ hồ sơ kém hiệu quả đến sự bóp méo dữ liệu bởi các chính trị gia.

Những gì chúng ta biết là số lượng người di cư trên toàn cầu đã tăng đều đặn trong những thập kỷ gần đây, gần như tăng gấp đôi từ 153 triệu người vào năm 1990 lên 281 triệu người vào năm 2020 – năm gần nhất mà Liên Hợp Quốc công bố số liệu thống kê toàn cầu.

Tuy nhiên, xét về tỷ lệ so với tổng dân số thế giới, số lượng người di cư ngày nay không nhiều hơn đáng kể so với trước đây. Trong 30 năm qua, dân số thế giới đã tăng gần 3 tỷ người, có nghĩa là tỷ lệ người di cư so với tổng số dân vẫn giữ mức tương đối ổn định. Vào năm 2020, khoảng 3,6% dân số thế giới được ghi nhận là sinh ra ở một quốc gia khác; con số này vào 30 năm trước là 2,9%.

nhavantuonglai

nhavantuonglai

Trong tương lai, tỷ lệ này có thể dao động, nhưng tổng dân số thế giới dường như đang tiến gần đến đỉnh điểm. Tốc độ tăng trưởng dân số toàn cầu đang chậm lại sau một giai đoạn bùng nổ – từ 2,5 tỷ người vào năm 1950 lên 5,3 tỷ vào năm 1990, và đến nay đã đạt 8 tỷ người. Dự kiến, dân số thế giới sẽ đạt khoảng 9,5 tỷ người vào giữa thế kỷ này, sau đó giảm xuống dưới mức hiện tại vào cuối thế kỷ.

Cuộc chơi của những con số

Thống kê di cư cần được xem xét một cách cực kỳ cẩn trọng. Không chỉ vì chúng nổi tiếng là khó thu thập và phân tích, mà còn vì chúng rất dễ bị thao túng cho các mục đích chính trị.

Các quốc gia có cách định nghĩa và tính toán số lượng người di cư khác nhau. Một số quốc gia tính một chuyến đi hoặc một giai đoạn vắng mặt ngay từ ngày đầu tiên, trong khi những quốc gia khác chỉ tính khi thời gian lưu trú vượt quá một năm. Một số nước bao gồm cả ước tính về những người nhập cư không có giấy tờ vào tổng số người di cư của họ, trong khi những nước khác thì không.

Chẳng hạn, trong khối Schengen gồm 29 quốc gia châu Âu, không có kiểm soát biên giới nội bộ, khiến việc ước tính số lượng người di cư phần lớn dựa vào phỏng đoán.

Ngay cả những quốc gia giàu có nhất cũng không thể đo lường chính xác số lượng người di cư.

Vương quốc Anh là một trong nhiều quốc gia chỉ ghi nhận lượt nhập cảnh mà không theo dõi lượt xuất cảnh. Điều này dẫn đến sự chênh lệch đáng kể giữa số liệu nhập cư và số liệu xuất cư.

Ví dụ, số liệu của Ba Lan về công dân di cư sang Anh thấp hơn nhiều so với số liệu do Anh cung cấp – và cả hai con số này đều không có khả năng phản ánh chính xác thực tế.

Nhiều khi, các con số thay đổi tùy thuộc vào nguồn cung cấp dữ liệu.

Bộ Ngoại giao Bulgaria tuyên bố rằng vào tháng 1 năm 2019, có khoảng 200.000 người Bulgaria sống ở Vương quốc Anh. Tuy nhiên, vào cùng thời điểm đó, Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) ước tính số người sinh ra tại Bulgaria đang cư trú tại Anh chỉ khoảng 110.000 người.

Việc phân biệt giữa một chuyến đi có ý định định cư và một hành trình được thực hiện vì mục đích du lịch, kinh doanh hoặc học tập không hề dễ dàng, ngay cả khi đã có sự hỗ trợ của thị thực, thẻ nhập cảnh và giấy phép cư trú.

Chúng ta có dữ liệu chính xác hơn nhiều về dòng chảy hàng hóa so với sự di chuyển của con người qua biên giới.

Người di cư đang ở đâu?

Trong số ước tính 281 triệu người di cư vào năm 2020, hơn hai phần ba là lao động, trong đó hơn một nửa (59%) là nam giới và hai phần ba đang làm việc tại các quốc gia có thu nhập cao.

Châu Âu hiện là điểm đến chính của người di cư, với 87 triệu người, chiếm gần một phần ba tổng số người di cư trên toàn cầu. Rất sát phía sau là châu Á, nơi có khoảng 86 triệu người di cư, tương đương 30% tổng số. Khoảng 59 triệu người (20%) sống ở Bắc Mỹ và 25 triệu người (9%) ở châu Phi – mặc dù số liệu thống kê về việc qua biên giới giữa 52 quốc gia ở châu Phi có độ chính xác thấp, do đó con số thực tế có thể cao hơn nhiều.

Tại khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribe, số lượng người di cư đã tăng gấp đôi trong 15 năm qua, đạt 15 triệu người (tương đương 5% tổng dân số người di cư toàn cầu). Tuy nhiên, con số này vẫn là một sự đánh giá thấp đáng kể, xét đến dòng người nhập cư không có giấy tờ giữa các quốc gia Trung Mỹ và làn sóng di cư gần đây từ Venezuela.

Đặc điểm địa lý và quy mô dân số giúp lý giải một số xu hướng thống kê.

Châu Đại Dương – khu vực có diện tích rộng lớn, đa dạng và dân cư thưa thớt – có tỷ lệ người di cư cao nhất, với khoảng 22% dân số sinh ra ở một quốc gia khác. Để so sánh, con số này ở Bắc Mỹ là 16% và ở châu Âu là 12%.

Hoa Kỳ là quốc gia có số lượng người di cư lớn nhất thế giới, với 51 triệu người, chiếm 15% tổng số người di cư toàn cầu. Phần lớn người di cư đến từ Mexico, Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines, theo thứ tự này. Hơn 11 triệu người nhập cư đã vào Hoa Kỳ từ Mexico, và biên giới giữa hai nước là nơi có số lượt vượt biên được ghi nhận nhiều nhất thế giới.

Xếp sau Hoa Kỳ là Đức, với 16 triệu người di cư, chiếm 19% dân số nước này. Ả Rập Xê Út là điểm đến lớn thứ ba, với 13,5 triệu người di cư, chiếm 38% tổng dân số của nước này. Ba quốc gia có số lượng người di cư lớn nhất đến Ả Rập Xê Út là Ấn Độ, Indonesia và Pakistan.

Tuy nhiên, xét về tỷ lệ dân số, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) là nơi có tỷ lệ người nhập cư cao nhất. Khoảng 88% dân số UAE là người sinh ra ở nước ngoài. Khoảng 3,8 triệu người Ấn Độ làm việc tại đây, trong đó hơn 1 triệu người đến từ bang Kerala và nửa triệu người đến từ bang Tamil Nadu.

nhavantuonglai

nhavantuonglai

Di cư cưỡng bức

Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) ước tính rằng vào nửa cuối năm 2023, có 114 triệu người buộc phải rời bỏ quê hương do bị đàn áp, xung đột, bạo lực và vi phạm nhân quyền. Đến cuối tháng 6 năm 2024, con số này đã tăng lên 122,6 triệu người.

Trong số này, có 35,3 triệu người tị nạn thuộc phạm vi bảo trợ của UNHCR, 5,9 triệu người tị nạn Palestine được đăng ký với Cơ quan Cứu trợ và Hành động của Liên Hợp Quốc (UNRWA), 62,5 triệu người phải di dời trong nội bộ quốc gia của họ, và 5,4 triệu người đang chờ được công nhận tình trạng tị nạn hợp pháp.

Ba phần tư tổng số người tị nạn đang được các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình tiếp nhận. Trong số 45 quốc gia kém phát triển nhất theo phân loại của Liên Hợp Quốc, 20% tổng số người tị nạn toàn cầu đang tìm kiếm nơi trú ẩn tại các nước này.

Hầu hết những người tị nạn đều chạy đến nơi gần nhất có điều kiện an toàn tương đối. Gần 70% số người cần được bảo vệ quốc tế đang sống tại các quốc gia láng giềng.

Thổ Nhĩ Kỳ và Iran là hai quốc gia tiếp nhận nhiều người tị nạn nhất thế giới – khoảng 3,4 triệu người mỗi nước. Phần lớn người tị nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ đến từ Syria, trong khi tại Iran, họ chủ yếu đến từ Afghanistan và Iraq.

Hoa Kỳ là nước nhận được nhiều đơn xin tị nạn cá nhân nhất, nhưng số lượng người tị nạn thực sự được chấp nhận và lưu trú tại đây tương đối thấp.

Cùng với ước tính 6,8 triệu người Palestine phải di cư, hơn một nửa số người tị nạn và những người cần bảo vệ quốc tế đến từ chỉ ba quốc gia – Syria (6,5 triệu người), Afghanistan (6,1 triệu người) và Ukraine (5,7 triệu người).

nhavantuonglai

nhavantuonglai

Xung đột tại Sudan được dự báo sẽ làm tăng đáng kể số lượng người tị nạn trong tương lai.

Khoảng 1,7 triệu người Palestine tị nạn hiện đang sống tại Dải Gaza. Do hậu quả từ cuộc tấn công quân sự của Israel để đáp trả các sự kiện kinh hoàng vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, nhà cửa và cộng đồng của họ đã bị phá hủy. Tính đến thời điểm viết bài này, hơn 30.000 người đã thiệt mạng, hàng chục nghìn người khác bị thương, đối mặt với nạn đói và bạo lực tiếp diễn, tạo ra các làn sóng tị nạn mới.

Trong ba năm kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, hơn 14 triệu người Ukraine đã phải rời bỏ nhà cửa, gây ra một trong những cuộc khủng hoảng tị nạn nghiêm trọng nhất kể từ năm 1945.

Việc tiếp nhận người tị nạn Ukraine tại nhiều quốc gia châu Âu khác biệt đáng kể so với phản ứng đối với các làn sóng tị nạn trước đó từ các khu vực khác trên thế giới.

Việc người Ukraine có ngoại hình tương đồng với người châu Âu khác, cũng như được coi là có mối liên hệ gần gũi hơn về tôn giáo và lịch sử, khiến họ nhận được sự chào đón nồng nhiệt hơn so với người tị nạn Syria và Afghanistan. Đồng thời, họ cũng tránh được thái độ thù địch mà nhiều người di cư từ châu Phi phải đối mặt.

Người di cư mất tích và chết

Trên toàn cầu, phần lớn người di cư thực hiện việc vượt biên hợp pháp.

Tuy nhiên, việc di cư không có giấy tờ hoặc bất hợp pháp vốn rất khó định lượng, bởi nó thường liên quan đến những hành trình bí mật và nguy hiểm của những người tuyệt vọng tìm kiếm cơ hội sống mới.

Ít nhất 60.000 người đã thiệt mạng trong mười năm qua khi cố gắng di cư sang một quốc gia khác. Gần một nửa trong số đó biến mất không dấu vết, thi thể của họ không bao giờ được tìm thấy.

Năm 2023 là năm nguy hiểm nhất trong thập kỷ qua đối với người di cư, với ước tính 8.565 người đã tử vong khi cố gắng đến được điểm đến của họ.

Địa Trung Hải có lẽ là nghĩa địa lớn nhất đối với những người di cư mất tích, với hàng chục nghìn, đôi khi hàng trăm nghìn người tuyệt vọng cố gắng vượt qua mỗi năm.

Chỉ một phần rất nhỏ thi thể của những người di cư chết đuối trên biển được tìm thấy; hầu hết các vụ đắm tàu vô hình này biến mất không một dấu vết.

Tại biên giới Mỹ–Mexico, hàng nghìn người mỗi năm mất tích hoặc tử vong do bị bắt cóc, tai nạn xe cộ, rắn cắn, mất nước và chết đói.

Ở lại hay ra đi?

Khoảng 97% dân số thế giới không di cư ra nước ngoài.

Hầu hết mọi người không sẵn sàng hoặc không đủ khả năng bước vào những điều chưa biết. Họ có thể thích sự thoải mái của môi trường quen thuộc hoặc bị ngăn cản bởi nghèo đói, tuổi tác, sức khỏe kém hoặc những hạn chế khác.

Việc số lượng người di cư trong nước nhiều hơn rất nhiều so với người di cư quốc tế cũng phản ánh những khó khăn trong việc vượt qua biên giới và mong muốn của nhiều người là được ở gần nhà.

Việc di chuyển ngay trong chính quốc gia của mình đã đủ khó khăn, huống hồ là ra nước ngoài – một hành trình còn nguy hiểm và phức tạp hơn nhiều.

Di cư thường là một sự hy sinh to lớn vì lợi ích của người khác.

Trong nhiều cộng đồng nghèo, con trai cả – hoặc con gái cả, như trường hợp phổ biến hơn ở Philippines – có thể được khuyến khích di cư để hỗ trợ gia đình.

Những hành trình nguy hiểm, những khó khăn và nỗi cô đơn mà người di cư phải chịu đựng vì người thân của họ chính là minh chứng cho sự hy sinh và lòng dũng cảm của họ.

Những người tị nạn và những người bị cưỡng bức di cư thường chỉ di chuyển một quãng đường ngắn để họ có thể quay về khi tình hình an toàn hơn.

Từ một phần năm đến một nửa số người di cư trở về quê hương hoặc chuyển đến một quốc gia thứ ba trong vòng năm năm.

Họ có thể trở về vì đã tiết kiệm đủ tiền, đạt được một chứng chỉ, hoặc muốn quay lại để ổn định cuộc sống, lập gia đình hoặc nghỉ hưu.

Người di cư – Những con người bình thường nhưng phi thường.

Người di cư thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hy sinh.

Chính những phẩm chất này đã giúp loài người không bị tuyệt chủng trong giai đoạn đầu tiến hóa, khi phải đối mặt với hạn hán và nạn đói.

Chúng cũng là yếu tố cốt lõi giúp nhân loại đạt được những bước tiến phi thường như ngày nay.

người di cư chỉ là thiểu số, chúng ta không nên cho rằng lối sống định cư là tốt hơn hay tự nhiên hơn.

Người di cư có thể vừa rất bình thường, nhưng đồng thời cũng là những con người vô cùng đặc biệt.

nhavantuonglai

Share:

Có thể bạn chưa đọc

Xem tất cả »

Liên lạc trao đổi

Liên lạc thông qua Instagram

Thông qua Instagram, bạn có thể trao đổi trực tiếp và tức thời, cũng như cập nhật những thông tin mới nhất từ nhavantuonglai.

Nhắn tin
1

Tức thời

Bạn có thể gửi và nhận tin nhắn nhanh chóng, trực tiếp, giúp những vấn đề cá nhân của bạn được giải quyết tức thời và hiệu quả hơn.

2

Thân thiện

Vì tính chất là kênh liên lạc nhanh, nên bạn có thể bỏ qua những nghi thức giao tiếp thông thường, chỉ cần lịch sự và tôn trọng thì sẽ nhận được sự phản hồi đầy thân thiện, thoải mái từ tác giả.

Trao đổi trên email

Thông qua email cá nhân, bạn có thể trao đổi thỏa thuận hợp tác, kết nối chuyên sâu và mang tính chuyên nghiệp.

Gửi mail
1

Tin cậy

Trong một số trường hợp, email được dùng như một tài liệu pháp lý, chính vì vậy mà bạn có thể an tâm và tin cậy khi trao đổi với tác giả thông qua email.

2

Chuyên nghiệp

Cấu trúc của email đặt tính chuyên nghiệp lên hàng đầu, nên những thông tin, nội dung được viết trong email từ tác giả sẽ luôn đảm bảo điều này ở mức cao nhất.